38.800 doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường, vì sao họ chọn rời bỏ cuộc chơi và việc cần làm lúc này là gì?
Con số 38.800 doanh nghiệp rút lui không nên chỉ được nhìn như một chỉ tiêu tiêu cực. Câu hỏi quan trọng hơn là: "Sau khi 38.800 doanh nghiệp rời thị trường, TP.HCM đang tạo ra lớp doanh nghiệp nào để thay thế?".
Trong 7 tháng đầu năm 2026, TP.HCM có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,81% so với cùng kỳ. Trong khi đó, 7.483 doanh nghiệp hoàn tất giải thể, tăng tới 158,66%, và 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,51%. Như vậy, tổng số doanh nghiệp rút khỏi thị trường vượt 38.800, cao hơn số doanh nghiệp thành lập mới.
Chủ trì phiên họp đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm mới đây, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã yêu cầu làm rõ nguyên nhân hơn 38.800 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong 7 tháng đầu năm, cao hơn đáng kể so với số doanh nghiệp thành lập mới.

Các cửa hàng kinh doanh đóng cửa và trả mặt bằng tại TP.HCM (Ảnh: Trần Chung)
Hiểu đúng về con số 38.800
"Việc hơn 38.800 doanh nghiệp rút lui là đào thải tự nhiên hay sức đề kháng của khu vực tư nhân đang suy yếu?".
"Chưa thể coi hơn 38.800 doanh nghiệp rút khỏi thị trường đơn thuần là một quá trình 'đào thải tự nhiên', nhưng cũng chưa đủ cơ sở để kết luận khu vực kinh tế tư nhân TP.HCM đang suy giảm trên diện rộng. Điều đáng quan tâm nhất nằm ở cơ cấu doanh nghiệp rút lui", TS.Chu Thanh Tuấn, Phó chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam trả lời mở đầu cho một loạt phân tích kéo dài gần 2 giờ đồng hồ với phóng viên. Ông Tuấn là một chuyên gia nghiên cứu về kinh tế, thương mại cũng như chính sách thuế quan, chính sách công.
Khi phân tích rõ hơn về các con số ở chiều ngược lại, ông cho rằng, nếu tính thêm 12.221 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường vẫn đạt hơn 46.300, cao hơn số rút lui. Vì vậy, chúng ta cần thận trọng khi nhìn con số 38.800 như bằng chứng cho một cuộc suy giảm toàn diện của khu vực tư nhân.
Tuy nhiên, điều đáng lo hơn là số doanh nghiệp giải thể hoàn toàn tăng tới 158,66%, trong khi số quay trở lại hoạt động lại giảm 2,87%. Việc tạm ngừng kinh doanh có thể chỉ là một quyết định phòng thủ trong lúc thị trường khó khăn, nhưng giải thể có nghĩa doanh nghiệp thực sự rời cuộc chơi. Khi số doanh nghiệp lựa chọn phương án này tăng hơn 2,5 lần so với cùng kỳ, đó là một tín hiệu cần được xem xét nghiêm túc.
Hiện tại, GRDP 6 tháng đầu năm của TP.HCM tăng 8,55%, cao nhất trong khoảng một thập kỷ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 7 tháng tăng 13,3%, sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng và FDI đạt hơn 9,8 tỷ USD.
Do đó, số doanh nghiệp rút lui nêu trên là biểu hiện của một quá trình kép. Một phần là sự sàng lọc khi nền kinh tế thành phố chuyển sang mô hình có năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn. Nhưng một phần khác phản ánh sức chống chịu của nhóm doanh nghiệp nhỏ và các mô hình kinh doanh truyền thống đang suy yếu. Lúc này, TP.HCM cần đặc biệt theo dõi nhóm thứ hai, bởi nếu tốc độ doanh nghiệp biến mất nhanh hơn khả năng hình thành các doanh nghiệp mới có năng suất cao hơn thì 'sàng lọc' có thể chuyển thành mất năng lực sản xuất thực sự.
Vấn đề không chỉ là 'giảm lãi suất'
Đi vào phân tích những rào cản nào đang bào mòn sức bền doanh nghiệp, thành viên Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, nếu phải xác định một vấn đề lớn nhất, đó sẽ không phải riêng lãi suất, thủ tục hay tổng cầu, mà là tình trạng biên lợi nhuận và dòng tiền của doanh nghiệp ngày càng mỏng trong khi chi phí thích ứng với môi trường kinh doanh mới ngày càng cao.
Nói đơn giản, nhiều doanh nghiệp vẫn có doanh thu nhưng phần tiền còn lại sau khi trả chi phí ngày càng ít. Với doanh nghiệp nhỏ, chỉ cần chi phí vốn, tiền thuê mặt bằng, tiền lương, nguyên liệu và chi phí tuân thủ cùng tăng trong một thời gian đủ dài thì doanh nghiệp có thể mất khả năng duy trì hoạt động.

TS.Chu Thanh Tuấn, Phó chủ nhiệm nhóm ngành Cử nhân Kinh doanh, Đại học RMIT Việt Nam.
Ông cũng không cho rằng, suy giảm tổng cầu là nguyên nhân bao trùm, bởi số liệu của TP.HCM cho thấy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 7 tháng vẫn tăng 13,3%, trong khi sản xuất công nghiệp và xuất khẩu duy trì tăng trưởng. Vấn đề có thể nằm ở sự dịch chuyển của cầu. Người tiêu dùng thay đổi hành vi, thương mại điện tử phát triển, cạnh tranh về giá và công nghệ mạnh hơn. Vì vậy, tổng cầu của thành phố vẫn tăng nhưng không có nghĩa mọi doanh nghiệp đều được hưởng lợi như nhau.
Bên cạnh đó, thủ tục pháp lý cũng là một yếu tố đáng lưu tâm, đặc biệt trong giai đoạn thành phố đang vận hành một không gian kinh tế lớn hơn và xử lý nhiều vấn đề liên quan đến đất đai, quy hoạch, đầu tư. Với doanh nghiệp lớn, một thủ tục kéo dài thêm vài tháng có thể là chi phí. Nhưng với doanh nghiệp nhỏ có dòng tiền chỉ đủ duy trì vài tháng, độ trễ đó đôi khi quyết định khả năng tồn tại.
Vì vậy, vấn đề cần giải quyết không chỉ là 'giảm lãi suất' mà phải giảm tổng chi phí kinh doanh và chi phí tuân thủ, đồng thời giúp doanh nghiệp nâng năng suất. Nếu chỉ hỗ trợ doanh nghiệp vay thêm để tiếp tục một mô hình kinh doanh có năng suất thấp và biên lợi nhuận ngày càng giảm thì chúng ta chỉ trì hoãn việc rút lui chứ chưa giải quyết nguyên nhân.
Tiền chảy vào nơi đâu?
Có một điểm đáng chú ý là theo số liệu công bố tại phiên họp kinh tế-xã hội của TP.HCM vừa qua, tổng vốn huy động trên địa bàn đạt khoảng 5,694 triệu tỷ đồng, tăng 16,07%, trong khi dư nợ tín dụng đạt khoảng 5,650 triệu tỷ đồng, tăng 18,42%.
Câu hỏi đặt ra ở đây là: "Vì sao tín dụng tăng 18,42% nhưng doanh nghiệp vẫn rời thị trường?".
TS.Chu Thanh Tuấn cho rằng, tăng trưởng tín dụng cao không đồng nghĩa mọi doanh nghiệp đều tiếp cận được vốn. Con số 18,42% phản ánh lượng tín dụng của toàn nền kinh tế thành phố, nhưng điều quan trọng hơn là vốn đang đi vào đâu và doanh nghiệp nào thực sự tiếp cận được vốn.
Nhìn ở cấp độ toàn thành phố, con số trên là tín hiệu tích cực.
Đây chính là điểm cần phân biệt giữa 'thanh khoản của hệ thống' và 'khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp'. Hệ thống ngân hàng có thể có khả năng cho vay nhưng ngân hàng vẫn phải kiểm soát rủi ro. Trong khi đó, chính những doanh nghiệp đang cần vốn nhất lại thường là những doanh nghiệp có bảng cân đối tài chính yếu nhất và vì vậy khó đáp ứng điều kiện tín dụng nhất.
"Chưa có đủ dữ liệu để khẳng định phần lớn mức tăng tín dụng 18,42% đang chảy vào bất động sản hoặc không đi vào sản xuất kinh doanh", ông Tuấn nói và cho hay, muốn kết luận điều đó phải nhìn vào cơ cấu tăng trưởng tín dụng theo ngành và theo quy mô doanh nghiệp.
Tuy nhiên, số liệu hiện nay ít nhất đặt ra một câu hỏi chính sách rất quan trọng: "Trong tổng tín dụng tăng thêm, bao nhiêu phần thực sự đến được doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất và những doanh nghiệp đang thực hiện chuyển đổi công nghệ?"
TP.HCM, vì vậy, không nên chỉ theo dõi tốc độ tăng tín dụng chung. 'Đầu tàu kinh tế' của cả nước cần theo dõi thêm khả năng tiếp cận vốn của từng nhóm doanh nghiệp. Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng số doanh nghiệp nhỏ giải thể cũng tăng nhanh, rất có thể tồn tại một khoảng trống tài chính mà chính sách cần can thiệp.

Con số 38.800 doanh nghiệp rút lui tại TP.HCM không nên chỉ được nhìn như một chỉ tiêu tiêu cực. (Ảnh: Trần Chung)
Tìm câu trả lời
Có thể thấy, TP.HCM khó đạt tăng trưởng 11% đến 12% trong hai quý cuối năm nếu chỉ cố giữ tất cả doanh nghiệp hiện hữu tồn tại. Mục tiêu chính sách, theo ông Tuấn, nên là vừa hạn chế những doanh nghiệp có năng lực phải rời thị trường vì thiếu vốn ngắn hạn, vừa thúc đẩy nguồn lực dịch chuyển nhanh hơn sang những doanh nghiệp và ngành có năng suất cao hơn.
Áp lực tăng trưởng là rất lớn. GRDP 6 tháng đầu năm của địa phương tăng 8,55%, trong khi kịch bản của thành phố yêu cầu quý III tăng khoảng 11% và quý IV khoảng 11,8% đến 12%. Vì vậy, đầu tư công phải đóng vai trò lực kéo trước mắt. Đến cuối tháng 7, thành phố mới giải ngân khoảng 63.768 tỷ đồng trong tổng kế hoạch 147.599 tỷ đồng, tương đương 43,2%. Như vậy, phần vốn chưa giải ngân còn rất lớn. Nếu số vốn này được đưa vào nền kinh tế nhanh và đúng dự án, đầu tư công không chỉ tạo GRDP trực tiếp mà còn tạo đơn hàng cho xây dựng, vật liệu, logistics, dịch vụ và kích hoạt đầu tư tư nhân. Đây là động lực thứ nhất.
Động lực thứ hai phải đến từ việc biến dòng vốn FDI thành năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước. TP.HCM thu hút hơn 9,8 tỷ USD FDI trong 7 tháng đầu năm, tăng khoảng 44,45%. Nhưng giá trị của FDI đối với thành phố không nên chỉ được đo bằng số vốn đăng ký. Quan trọng hơn là bao nhiêu doanh nghiệp TP.HCM có thể trở thành nhà cung ứng cho các dự án đó, bao nhiêu công nghệ được chuyển giao và bao nhiêu việc làm có năng suất cao được tạo ra.
Ông cho rằng thành phố có thể tiến thêm một bước bằng cách xây dựng chương trình kết nối doanh nghiệp nhỏ và vừa với các tập đoàn FDI hay các doanh nghiệp lớn theo từng chuỗi cung ứng cụ thể. Tức là, thay vì cứu một doanh nghiệp nhỏ để doanh nghiệp tiếp tục mô hình cũ, chính sách nên giúp doanh nghiệp đó chuyển đổi để trở thành nhà cung ứng cho những ngành đang phát triển như công nghệ, logistics, tài chính, sản xuất công nghệ cao và dịch vụ chuyên môn.
Đối với sandbox, TP.HCM nên coi đây là công cụ để giảm chi phí thử nghiệm mô hình kinh doanh mới chứ không đơn thuần là ưu đãi. Thành phố có thể ưu tiên các mô hình fintech, tài chính chuỗi cung ứng, dữ liệu, AI và dịch vụ số, qua đó giúp doanh nghiệp nhỏ tiếp cận các hình thức tài trợ dựa trên dòng tiền, hóa đơn hoặc hợp đồng thay vì quá phụ thuộc vào tài sản thế chấp.
Một hướng khác đáng cân nhắc là nâng vai trò của cơ chế bảo lãnh tín dụng. Nhà nước không nên thay ngân hàng quyết định doanh nghiệp nào đáng được vay, nhưng có thể chia sẻ một phần rủi ro đối với những doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi, đang chuyển đổi công nghệ hoặc tham gia chuỗi cung ứng mới nhưng thiếu tài sản bảo đảm.
Ở góc độ chuyên gia nghiên cứu, đối với ông Tuấn, con số 38.800 doanh nghiệp rút lui không nên chỉ được nhìn như một chỉ tiêu tiêu cực. Câu hỏi quan trọng hơn là: "Sau khi 38.800 doanh nghiệp rời thị trường, TP.HCM đang tạo ra lớp doanh nghiệp nào để thay thế?".
Ngược lại, nếu doanh nghiệp rời đi nhưng vốn, lao động và năng lực kinh doanh không được tái phân bổ hiệu quả, thành phố sẽ mất cả sản lượng lẫn việc làm.
Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không nên chỉ được hiểu là làm cho nền kinh tế lớn hơn trong vài quý tới. Điều quan trọng hơn là tận dụng chính giai đoạn sàng lọc hiện nay để làm cho cấu trúc doanh nghiệp của TP.HCM khỏe hơn, có năng suất cao hơn và đủ sức cạnh tranh trong một không gian kinh tế mới, theo TS.Chu Thanh Tuấn.
Trần Chung