Ấn Độ báo tin vui đến Việt Nam
Xuất khẩu một mặt hàng của Việt Nam sang Ấn Độ vừa chứng kiến mức tăng trưởng 3 chữ số.

Ảnh minh họa
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam trong tháng 7 đạt hơn 213 nghìn tấn với kim ngạch hơn 282 triệu USD, giảm 17% về lượng và giảm 21% về trị giá so với tháng 6.
Lũy kế trong 7 tháng đầu năm, nước ta đã xuất khẩu hơn 1,7 triệu tấn chất dẻo với kim ngạch hơn 2,1 tỷ USD, tăng mạnh 36% về lượng và tăng 57,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Xét về thị trường, Nhật Bản đang là thị trường lớn nhất với hơn 186 nghìn tấn, trị giá hơn 244 triệu USD, tăng 62% về lượng và tăng mạnh 109% về trị giá so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu bình quân đạt 1.312 USD/tấn, tăng 30%.

Đứng thứ 2 là Ấn Độ với hơn 211 nghìn tấn, trị giá hơn 229 triệu USD, tăng 189% về lượng và tăng 186% về trị giá so với 7T/2025. Giá bình quân 1085 USD/tấn, giảm nhẹ 1%.
Indonesia là thị trường lớn thứ 3 về kim ngạch với hơn 228 triệu USD, tương đương hơn 165 nghìn tấn, tăng 21% về lượng và tăng 33% về trị giá. Giá trung bình 1386 USD/tấn, tăng 10%.
Theo Mordor Intelligence, quy mô thị trường nhựa Việt Nam năm 2026 ước tính đạt 12,83 triệu tấn. Con số này tăng từ 11,84 triệu tấn của năm 2025. Dự kiến đến năm 2031 sẽ đạt 19,16 triệu tấn, tăng trưởng với tốc độ CAGR 8,35% trong giai đoạn 2026-2031
Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), ngành hiện đóng góp khoảng 6-7% giá trị sản xuất công nghiệp. Toàn ngành có hơn 4.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Năm 2025, quy mô sản xuất của ngành nhựa Việt Nam đạt khoảng 32 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt 6,5 – 6,6 tỷ USD. Sản phẩm nhựa Việt Nam đã có mặt tại hơn 170 thị trường trên thế giới. Các thị trường xuất khẩu chủ lực gồm Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và ASEAN.
Ngành nhựa Việt Nam hiện được chia thành bốn phân khúc chính, mỗi phân khúc đóng vai trò khác nhau trong chuỗi giá trị của ngành.
Nhựa bao bì là phân khúc lớn nhất của ngành, chiếm khoảng 35% sản lượng và giữ vai trò chủ lực trong xuất khẩu. Nhu cầu chủ yếu đến từ các ngành thực phẩm, đồ uống và hàng tiêu dùng.
Nhựa xây dựng chiếm khoảng 25% sản lượng, tập trung vào các sản phẩm như ống nhựa và vật liệu hạ tầng. Nhựa gia dụng chiếm 22%, phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong nước.
Trong khi đó, nhựa kỹ thuật chiếm khoảng 18% sản lượng. Phân khúc này được ứng dụng trong các ngành ô tô, điện tử và y tế. Đây cũng là nhóm sản phẩm có tiềm năng tăng trưởng cao trong những năm tới.
Trước biến động giá nguyên liệu và áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp nhựa đang đẩy mạnh liên kết chuỗi cung ứng và ứng dụng công nghệ số. Điều này giúp nâng cao tính minh bạch, quản lý tồn kho hiệu quả và chủ động ứng phó với rủi ro gián đoạn nguồn cung.
Các công nghệ quản lý dữ liệu, tự động hóa và phân tích dự báo đang được ứng dụng rộng rãi. Chúng giúp doanh nghiệp tối ưu sản xuất. Doanh nghiệp cũng kiểm soát chi phí tốt hơn và thích ứng nhanh hơn với biến động thị trường.
Như Quỳnh