Chu kỳ tiền rẻ đã qua, chuyên gia nói gì về mặt bằng lãi suất mới?

Sau gần một thập kỷ tiền rẻ, mặt bằng lãi suất đang bước vào một chu kỳ mới khi áp lực thanh khoản, tỷ giá và nhu cầu tín dụng cùng gia tăng. Dù các chính sách hỗ trợ vốn đang được triển khai, chuyên gia cho rằng lãi suất khó giảm sâu trong ngắn hạn và có thể duy trì ở mức cao đến năm 2027–2028.

Chu kỳ tiền rẻ đã qua, chuyên gia nói gì về mặt bằng lãi suất mới?- Ảnh 1.

Ảnh minh họa.

Lãi suất huy động về 4 - 5%/năm khó khả thi

Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7 ngày 3/8, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết 4 ngân hàng thương mại nhà nước đã chuẩn bị 220.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi, tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực ưu tiên.

Cùng với đó, tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng từ 20% lên 50%, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn được phép cho vay trung, dài hạn nâng lên 30-40%. Các động thái này được kỳ vọng mở thêm dư địa vốn cho nền kinh tế.

Tại Data Talk “Tiền rẻ khó quay lại: Mặt bằng lãi suất mới sẽ kéo dài bao lâu?” do WiGroup và VietnamBiz tổ chức, vấn đề đặt ra là liệu các biện pháp bơm vốn, thúc đẩy tín dụng có đủ sức kéo giảm chi phí vốn, hay nền kinh tế đã bước vào một “bình thường mới” với mặt bằng lãi suất cao kéo dài?

Chia sẻ về chủ đề trên, ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup nhấn mạnh chu kỳ tiền rẻ kéo dài gần một thập kỷ (2012–2021) đã chính thức khép lại. Giai đoạn bùng nổ thanh khoản trước đây chủ yếu tựa vào hai trụ cột: dòng vốn ngoại ồ ạt chảy vào và lượng tiền gửi nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước điều chuyển sang các ngân hàng thương mại tăng từ mức 200.000 tỷ đồng lên hơn 700.000 tỷ đồng, bơm trực tiếp hơn 500.000 tỷ đồng vào nền kinh tế chỉ trong 2 - 3 năm.

Trong bối cảnh dư địa chính sách hiện nay, bài toán bổ sung thanh khoản cho hệ thống ngân hàng đứng trước hai ngã rẽ.

Về dòng vốn ngoại, ông Báu cho rằng trong 1-2 năm tới, dù áp lực đã hạ nhiệt so với giai đoạn 2-3 năm trước, khả năng cao dòng vốn này vẫn chưa thể chảy vào Việt Nam, khiến triển vọng thu hút nguồn vốn mới gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do mặt bằng lãi suất thế giới neo cao, quan điểm thắt chặt tiền tệ từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), cùng đà tăng lợi suất trái phiếu tại Mỹ và Nhật Bản đang dấy lên lo ngại về nguy cơ đảo chiều dòng tiền. Đây là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tỷ giá và từ đó cũng ảnh hưởng tới chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Về nguồn vốn Kho bạc, ông Báu cho biết hiện Kho bạc Nhà nước đang gửi khoảng 700.000 tỷ đồng tại các ngân hàng thương mại, chạm trần pháp lý 50% tổng lượng tiền nhàn rỗi (ước tính đạt 1,4 - 1,5 triệu tỷ đồng). Bộ Tài chính đang đề xuất nới trần tỷ lệ này lên 80%, tức sẽ có khoảng 400.000 tỷ đồng "tiền mạnh" được bơm thẳng vào hệ thống.

Ông Báu đánh giá là giải pháp căn cơ, vượt trội so với các kỹ thuật điều hành biên như nới tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi hay tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. Tuy nhiên, nút thắt lớn nhất nằm ở yếu tố thời gian. Việc thống nhất cơ chế giữa Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đòi hỏi quy trình tham vấn phức tạp, dự kiến sớm nhất đến tháng 1/2027 mới có thể đi vào vận hành.

“Khoảng trống chính sách từ nay đến thời điểm đó buộc thị trường phải chấp nhận kịch bản thanh khoản tiếp tục chịu áp lực trước khi đón nhận nguồn lực hỗ trợ thực sự”, ông Báo nhấn mạnh.

Tại buổi Data Talk cũng đặt vấn đề về thanh khoản hệ thống ngân hàng khi các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn với lãi suất nhích tăng. Đáng chú ý, một số ngân hàng còn tăng cường huy động qua trái phiếu với lãi suất lên tới 10%/năm, cho thấy chi phí vốn đang ở mức khá cao.

Chia sẻ về vấn đề trên, Trần Ngọc Báu dẫn số liệu cho biết đến tháng 7, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống mới đạt khoảng 8,4%, thấp hơn mức 10,2% của cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy tín dụng vẫn tăng chậm dù hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực từ lãi suất và nhiều yếu tố khác.

Trong khi đó, để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 10%, tín dụng được kỳ vọng tăng ít nhất 15% trong năm nay. Như vậy, áp lực thúc đẩy tăng trưởng tín dụng đối với hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm vẫn rất lớn.

Ông Báu cho biết nếu tín dụng đầu ra tiếp tục tăng nhưng nguồn vốn đầu vào chưa được giải quyết, dư địa giảm lãi suất sẽ rất hạn chế. Đây cũng là một trong những cơ sở cho thấy lãi suất từ nay đến cuối năm khó giảm mạnh. 

“Sức nóng có thể giảm dần từ cuối năm đến đầu năm sau, nhưng mặt bằng lãi suất khó giảm sâu. Theo đó, kỳ vọng lãi suất huy động trở lại mức 4 - 5%/năm như trước là khó khả thi. Khi các khoản cộng thêm, thưởng lãi suất dần biến mất và thị trường tự cân bằng, lãi suất có thể ổn định quanh mặt bằng hiện tại. Nói cách khác, lãi suất có thể “hạ nhiệt” nhưng chưa thể thực sự giảm trong năm 2027”, ông Báu nhấn mạnh.

Lãi suất cao có thể kéo đến 2028

Chu kỳ tiền rẻ đã qua, chuyên gia nói gì về mặt bằng lãi suất mới?- Ảnh 2.

Các chuyên gia chia sẻ tại Data Talk. Ảnh chụp màn hình.

Đồng tình quan điểm trên, ông Nguyễn Anh Khoa - Giám đốc Phân tích, CTCP Chứng khoán Agribank (Agriseco) bổ sung, hiện nay Việt Nam đang tập trung vào các đại dự án đầu tư công. Bản chất đây là những dự án đầu tư trung và dài hạn, trong khi vốn của ngân hàng lại hầu hết là vốn ngắn hạn.

Khi nguồn vốn ngân hàng được sử dụng để tài trợ các dự án trung, dài hạn, chi phí vốn thường ở mức cao, qua đó tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất. Bên cạnh đó, vòng quay tiền trong nền kinh tế hiện chưa thực sự thuận lợi. Khi giải ngân đầu tư công chậm, một phần dòng tiền nằm tại Kho bạc Nhà nước, khiến dòng tiền luân chuyển giữa các chủ thể kinh tế chậm lại, thanh khoản suy giảm và nhu cầu vốn ngắn, trung hạn gia tăng, từ đó tạo thêm áp lực lên lãi suất.

Trong khi đó, các giải pháp Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện chủ yếu mang tính kỹ thuật, như điều chỉnh, nới hoặc siết các tỷ lệ. Về dài hạn, ông Khoa cho rằng vấn đề cốt lõi vẫn là tăng cung tiền cho nền kinh tế, thông qua các kênh như thị trường mở hoặc hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối.

Với hoạt động thị trường mở, dư địa mua bán trái phiếu Chính phủ hiện khá hạn chế khi quy mô phát hành trong 6 tháng đầu năm mới đạt khoảng 33% kế hoạch cả năm. Nguồn cung trái phiếu hạn chế khiến khả năng sử dụng kênh này để điều tiết thanh khoản cho hệ thống ngân hàng cũng bị thu hẹp.

Trong khi đó, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu, khiến việc bơm thêm tiền để hỗ trợ nền kinh tế phải được cân nhắc thận trọng. Do đó, giải pháp quan trọng là chờ lạm phát hạ nhiệt từ các yếu tố bên ngoài, đồng thời đẩy nhanh giải ngân đầu tư công để cải thiện vòng quay tiền trong nền kinh tế.

“Theo quan điểm này, duy trì được mặt bằng lãi suất hiện nay đã là một kịch bản tích cực. Lãi suất có thể tiếp tục duy trì ở mức cao trong năm 2027, thậm chí kéo dài sang 2028. Sau năm 2028, khi các dự án đầu tư công hoàn thành, nghiệm thu, quyết toán và dòng tiền thực sự đi vào nền kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh được kỳ vọng cải thiện, qua đó tạo dư địa để lãi suất giảm dần. Tuy nhiên, trong năm nay, khả năng lãi suất giảm mạnh như giai đoạn 2-3 năm trước là rất khó”, ông Khoa nhấn mạnh.

Phan Trang

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT