Góp 420 triệu mua BĐS và nói không cần đứng tên sổ đỏ 900 triệu, sau đó ngân hàng đến yêu cầu kê biên xử lý tất cả đất đang thế chấp

Trong thực tế, việc nhiều người cùng góp tiền mua đất nhưng chỉ để một người đứng tên trên giấy chứng nhận không phải hiếm gặp. Đây cũng là nguyên nhân dẫn tới nhiều tranh chấp khi phát sinh mâu thuẫn, đặc biệt liên quan thế chấp khoản vay.

Một vụ việc tại Vĩnh Long cho thấy những rắc rối có thể phát sinh từ cách đứng tên này. 

 Góp 420 triệu đồng nhưng không đứng tên đất

Theo hồ sơ vụ án, năm 2019, bà Nguyễn Thị B cùng vợ chồng bà Phạm Nguyễn Ái X và ông Nguyễn Hoàng S1 góp tiền mua 3 thửa đất tại Vĩnh Long. Tổng số tiền mua 3 thửa đất là 900 triệu đồng. Trong đó, bà B góp 400 triệu đồng và bỏ thêm 20 triệu đồng để san lấp mặt bằng. Vợ chồng bà X, ông S1 góp 500 triệu đồng.

Ba thửa đất gồm thửa 239 diện tích 783,9 m², thửa 483 diện tích 329 m² và thửa 216 diện tích 2.994,9 m². Sau khi mua, cả 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều được cấp cho bà X và ông S1.

Bà B cho rằng việc mình góp tiền mua đất đồng nghĩa có quyền đối với phần tài sản tương ứng. Vì vậy, bà yêu cầu được chia phần đất tương ứng với số tiền 420 triệu đồng, tổng cộng khoảng 1.900 m² trên 3 thửa.

Nhưng trước khi yêu cầu này được giải quyết, chính những mảnh đất mà bà B cho rằng mình có phần đã được vợ chồng bà X, ông S1 mang đi thế chấp.

Ba mảnh đất được thế chấp để vay 570 triệu đồng

Ngày 21/1/2020, bà X và ông S1 ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay 570 triệu đồng, thời hạn 20 năm. Mục đích khoản vay được xác định là bù đắp một phần tiền mua bất động sản.

Để bảo đảm khoản vay, vợ chồng bà X, ông S1 thế chấp cả 3 thửa đất nói trên cho ngân hàng. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm.

Trong quá trình vay, vợ chồng bà X và ông S1 đã thanh toán cho ngân hàng hơn 308,9 triệu đồng, trong đó tiền gốc gần 97,5 triệu đồng. Sau đó, khoản vay phát sinh nợ xấu.

Tính đến ngày 23/12/2025, số tiền ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà X, ông S1 thanh toán là hơn 673,3 triệu đồng, gồm 472,5 triệu đồng tiền gốc, hơn 34,9 triệu đồng lãi trong hạn, hơn 165,6 triệu đồng lãi quá hạn và các khoản lãi khác.

Ngân hàng yêu cầu nếu hai người không trả được nợ thì được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý cả 3 thửa đất đang thế chấp để thu hồi nợ.

Bà X không đồng ý chịu toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cùng ông S1. Bà cho rằng bà Nguyễn Thị B đã đưa cho ông S1 480 triệu đồng để trả khoản nợ của mình. Tuy nhiên, bà X và bà B không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc này.

Trong khi đó, ông S1 thừa nhận khoản vay và đồng ý cùng bà X trả nợ ngân hàng.

Tòa xử thế nào với 420 triệu đồng của bà B?

Đối với yêu cầu của bà B, tòa án xác định toàn bộ giấy tờ về quyền sử dụng 3 thửa đất đều đứng tên bà X và ông S1.

Bà B cho rằng mình đã góp 400 triệu đồng mua đất và 20 triệu đồng san lấp, nhưng không cung cấp được hợp đồng hoặc tài liệu hợp pháp thể hiện các bên có thỏa thuận góp vốn mua đất.

Tòa cũng không coi việc bà B từng đóng lãi ngân hàng hoặc trực tiếp sử dụng đất là căn cứ để xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với 3 thửa đất.

Vì vậy, tại bản án sơ thẩm ngày 23/12/2025, TAND khu vực 1 tỉnh Vĩnh Long buộc ông S1 và bà X trả ngân hàng hơn 673,3 triệu đồng đối với khoản vay thế chấp. Nếu không trả, ngân hàng được quyền xử lý 3 thửa đất.

Riêng khoản nợ từ 2 thẻ tín dụng, tòa buộc bà X thanh toán cho ngân hàng hơn 77,2 triệu đồng. Ông S1 không phải chịu khoản nợ thẻ này vì ngân hàng xác định bà X là người vay và sử dụng thẻ cá nhân.

Tòa không chấp nhận yêu cầu của bà B về việc chia 3 thửa đất theo số tiền đã góp. Đồng thời, yêu cầu của bà X về chia tài sản chung với ông S1 cũng chưa được xem xét trong vụ án này. Tòa cho rằng sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ ngân hàng, bà X và ông S1 có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác để yêu cầu chia tài sản chung.

Không đồng ý với phán quyết, bà B và bà X cùng kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, cả hai vẫn giữ nguyên yêu cầu nhưng các bên không đạt được thỏa thuận.

Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng với bà X, ông S1 được ký tự nguyện, đã công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực. Do vợ chồng bà X, ông S1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Đối với bà B, tòa giữ nguyên nhận định rằng không có căn cứ pháp lý để công nhận bà là đồng chủ sử dụng của 3 thửa đất chỉ từ việc góp tiền mua đất.

Kết quả, TAND tỉnh Vĩnh Long không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Nguyễn Ái X và bà Nguyễn Thị B, giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.

Như vậy, vợ chồng bà X, ông S1 vẫn phải trả ngân hàng hơn 673 triệu đồng và nếu không thực hiện nghĩa vụ, 3 thửa đất có tổng diện tích hơn 4.100 m² có thể được xử lý để thu hồi nợ. Còn bà B, dù khai đã bỏ 420 triệu đồng để cùng mua 3 mảnh đất, không được tòa công nhận quyền đối với phần đất mà bà yêu cầu.

Theo bản án dân sự phúc thẩm số 327/2026/DS-PT ngày 1/4/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long.

Thu Thủy

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT