Hàng Việt đi Mỹ: không thể vượt khó mãi bằng bán rẻ

Mức thuế bổ sung 12,5% của Mỹ không chỉ làm tăng chi phí xuất khẩu, mà còn phát đi một thông điệp rõ ràng: Thương mại quốc tế đang chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về độ minh bạch, xuất xứ và trách nhiệm chuỗi cung ứng.

Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Trong sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 86,5 tỷ USD, chiếm gần một phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Quy mô lớn đem lại nhiều đơn hàng, việc làm và nguồn thu ngoại tệ. Nhưng sự phụ thuộc quá cao cũng khiến doanh nghiệp Việt Nam dễ tổn thương trước mỗi thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ.

Việc Washington áp mức thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 đối với một phần hàng hóa Việt Nam đã thiết lập cuộc chơi mới. Thuế quan giờ đây không chỉ được sử dụng để bảo vệ sản xuất trong nước hay xử lý thâm hụt thương mại, mà ngày càng trở thành công cụ buộc các đối tác phải tuân thủ tiêu chuẩn về lao động, môi trường và trách nhiệm chuỗi cung ứng. Đây không phải một cú sốc riêng lẻ, mà là biểu hiện của một xu hướng dài hạn.

Không thể giữ thị trường bằng cách giảm giá

Hàng hóa Việt Nam từng nhiều lần đối diện các vụ kiện từ Mỹ. Kinh nghiệm cho thấy, doanh nghiệp có thể vượt qua một hàng rào thương mại, nhưng không thể vượt khó mãi bằng cách hạ giá. Nếu mức thuế tăng thêm 12,5%, việc giảm giá tương ứng để giữ đơn hàng sẽ cắn sâu vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Với những doanh nghiệp chủ yếu gia công, giá trị gia tăng thấp và phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, dư địa giảm giá gần như không còn.

Quan trọng hơn, giảm giá không xử lý được nguyên nhân cốt lõi của hàng rào thương mại mới.

Trước mắt, doanh nghiệp cần tránh hai thái cực: quá hoảng sợ hoặc quá chủ quan. Không phải toàn bộ hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đều chịu mức thuế bổ sung 12,5%. Doanh nghiệp cần rà soát chính xác từng mã HS, hợp đồng và nhóm sản phẩm để xác định mặt hàng nào chịu thuế, mặt hàng nào được miễn và điều kiện chuyển tiếp ra sao. Sau đó, cần xây dựng phương án riêng cho từng khách hàng.

Hàng Việt đi Mỹ: không thể vượt khó mãi bằng bán rẻ- Ảnh 1.

Nguồn: NTTPost 

Thuế nhập khẩu không nhất thiết phải do nhà sản xuất Việt Nam gánh toàn bộ. Tùy khả năng thay thế của sản phẩm và sức mạnh đàm phán, chi phí có thể được chia sẻ giữa doanh nghiệp xuất khẩu, nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối và người tiêu dùng Mỹ. Thay vì giảm giá đồng loạt, doanh nghiệp có thể đàm phán lại cơ cấu giá, thay đổi quy cách sản phẩm, tối ưu logistics, chuyển sang phân khúc có biên lợi nhuận cao hơn hoặc ký hợp đồng dài hạn để chia sẻ rủi ro. Cùng với bài toán giá là yêu cầu kiểm soát chuỗi cung ứng.

Doanh nghiệp cần lập danh sách nhà cung cấp được phê duyệt, xác định nguyên liệu có nguy cơ cao, kiểm tra hồ sơ lao động, lưu trữ chứng từ theo từng lô hàng và số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, không nên chỉ kiểm tra nhà cung cấp trực tiếp. Rủi ro lớn nhất thường nằm ở tầng hai, tầng ba của chuỗi cung ứng, nơi doanh nghiệp ít kiểm soát nhưng vẫn có thể phải chịu trách nhiệm. Các hiệp hội ngành hàng cũng cần đóng vai trò mạnh hơn. Thay vì để từng doanh nghiệp tự xử lý, hiệp hội có thể xây dựng bộ tiêu chuẩn chung, tổ chức tư vấn pháp lý, cập nhật danh sách rủi ro và hỗ trợ doanh nghiệp lập hồ sơ đề nghị miễn trừ hoặc điều chỉnh thuế.

FTA phải trở thành thị trường thực, không chỉ là “phao dự phòng”

Khi thị trường Mỹ gặp trở ngại, đa dạng hóa thị trường là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, đa dạng hóa không có nghĩa là đem nguyên sản phẩm đang bán tại Mỹ sang chào hàng tại châu Âu, Nhật Bản hay Canada. Mỗi thị trường có tiêu chuẩn, thị hiếu, quy tắc xuất xứ và hệ thống phân phối khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp phải đa dạng hóa cả sản phẩm, khách hàng, phương thức bán hàng và nguồn nguyên liệu.

Việt Nam đang tham gia 17 hiệp định thương mại tự do. CPTPP, EVFTA và RCEP mở ra những khu vực thị trường rộng lớn, với hàng trăm triệu người tiêu dùng và nhiều dòng thuế được cắt giảm sâu. Kết quả xuất khẩu gần đây cho thấy dư địa vẫn còn rất lớn.

Xuất khẩu sang các thành viên CPTPP và Liên minh châu Âu tiếp tục tăng, trong đó nhiều mặt hàng như thủy sản, đồ gỗ, dệt may, thực phẩm chế biến và hàng tiêu dùng có khả năng mở rộng thị phần.

Tuy nhiên, tỷ lệ tận dụng ưu đãi xuất xứ tại một số FTA vẫn còn thấp. Điều này có nghĩa doanh nghiệp có xuất khẩu nhưng chưa chắc đã được hưởng mức thuế ưu đãi tốt nhất. Nguyên nhân chủ yếu là phụ thuộc nguyên liệu ngoài khối, không đáp ứng quy tắc xuất xứ, thiếu hiểu biết về thủ tục hoặc chưa đủ năng lực xây dựng chuỗi cung ứng phù hợp. Muốn tận dụng FTA thực chất, doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược theo từng thị trường.

CPTPP có thể mở thêm cơ hội tại Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Anh. EVFTA phù hợp với những sản phẩm có chất lượng cao, thiết kế tốt, đáp ứng tiêu chuẩn xanh và trách nhiệm xã hội. RCEP tạo thuận lợi cho việc tổ chức lại nguồn nguyên liệu trong khu vực và tận dụng cơ chế cộng gộp xuất xứ. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy “có gì bán nấy” sang nghiên cứu nhu cầu rồi thiết kế sản phẩm. Một thị trường khó tính thường đòi hỏi chi phí tuân thủ cao hơn, nhưng đổi lại là giá bán tốt hơn, quan hệ khách hàng ổn định hơn và khả năng chống chịu lớn hơn.

Hàng Việt đi Mỹ: không thể vượt khó mãi bằng bán rẻ- Ảnh 2.

Chuyên gia Kinh tế PGS,TS Ngô Trí Long (Nguồn: Petro Việt Nam)

Cần một chiến lược dài hạn để hàng Việt khó bị thay thế

Về phía Nhà nước, không nên biến yêu cầu kiểm soát chuỗi cung ứng thành một lớp thủ tục hành chính áp dụng dàn đều cho mọi doanh nghiệp. Cần tập trung vào những ngành hàng, nguyên liệu và khu vực có nguy cơ cao; đồng thời xây dựng cơ chế điều tra, khiếu nại và xử lý dựa trên chứng cứ.

Việt Nam cũng cần tăng cường đối thoại với phía Mỹ, cung cấp dữ liệu về tiến bộ pháp lý và kết quả thực thi, qua đó tạo cơ sở đề nghị xem xét giảm hoặc dỡ bỏ thuế. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần đi vào những vấn đề thiết thực như tư vấn quy tắc xuất xứ, kiểm toán nhà cung cấp, số hóa truy xuất, chứng nhận tiêu chuẩn và chi phí pháp lý trong các vụ việc phòng vệ thương mại.

Về phía doanh nghiệp, giải pháp căn cơ nhất là nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện vẫn chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Điều đó cho thấy doanh nghiệp trong nước chưa nắm giữ được nhiều khâu có giá trị cao như thiết kế, công nghệ, nguyên liệu, thương hiệu và phân phối. Khi sản phẩm chỉ cạnh tranh bằng giá, nhà nhập khẩu có thể dễ dàng chuyển đơn hàng sang một quốc gia khác. Nhưng khi doanh nghiệp sở hữu công nghệ, thương hiệu, thiết kế riêng và chuỗi cung ứng đáng tin cậy, sản phẩm sẽ khó bị thay thế hơn và có sức mạnh đàm phán lớn hơn.

Bài học lớn nhất từ các hàng rào thương mại không phải là làm thế nào để né một mức thuế, mà là làm thế nào để hàng Việt có thể đứng vững trước nhiều thay đổi chính sách khác nhau. Thuế quan có thể thay đổi sau mỗi cuộc đàm phán. Nhưng năng suất cao, xuất xứ minh bạch, thị trường đa dạng và chuỗi cung ứng có trách nhiệm mới là “tấm hộ chiếu” bền vững của hàng hóa Việt Nam.

Vượt qua chính sách thuế mới của Mỹ vì thế không nên chỉ được xem là nhiệm vụ giữ kim ngạch trước mắt. Đây phải là cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc xuất khẩu: Giảm phụ thuộc vào một thị trường, tận dụng sâu hơn các FTA và chuyển từ công xưởng giá rẻ thành một mắt xích có giá trị, minh bạch và khó thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chuyên gia Kinh tế PGS,TS Ngô Trí Long

Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt nam

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT