Lựa chọn của niềm tin

“Nếu bạn nghĩ bạn có thể, hoặc bạn nghĩ bạn không thể, bạn đều đúng”, câu nói nổi tiếng của Herry Ford đang được nhiều doanh nhân nhắc lại tại thời điểm này, khi mà thế giới trở nên bất định, môi trường kinh doanh khó dự báo.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 1.

Cũng không quá ngạc nhiên khi một trong những doanh nghiệp toàn cầu là EY đã đặt việc "xây dựng niềm tin" làm mục đích hoạt động. Câu chuyện nhân dịp đầu xuân năm mới Bính Ngọ 2026 cùng ông Trần Đình Cường, Chủ tịch, Công ty TNHH Ernst & Young Việt Nam cũng xoay quanh chủ đề này.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 2.

PV: Là lãnh đạo của một doanh nghiệp lấy "xây dựng niềm tin" là mục tiêu hoạt động, ông định nghĩa thế nào về khái niệm này?

Ông Trần Đình Cường: Trong tiếng Việt, "niềm tin" là một cụm từ, nhưng theo tôi "niềm tin" có ít nhất ba lớp nghĩa: (1) sự tự tin - kỳ vọng năng lực hay một cơ hội, (2) lòng tin hay sự tin tưởng trong quan hệ xã hội, và niềm tin mang ý nghĩa là (3) quan niệm, tín niệm vào những thứ mình cho là đúng đắn, là chân lý.

Ba khái niệm này không tồn tại tách biệt; chúng là ba giai đoạn phát triển mà "tự tin" - là điểm khởi đầu. Khi bạn đủ tự tin vào bản thân hay một khả năng nào đó và chứng minh được điều mình tin là đúng, người khác cũng sẽ bắt đầu tin tưởng bạn. Lúc đó "lòng tin" được sinh ra.

Bạn càng thành công, bạn càng tự tin, người khác càng tin tưởng bạn. Khi sự tự tin của bạn và lòng tin của cộng đồng vững chắc đến độ khó lay chuyển, chúng cộng hưởng để hình thành dạng thức gần như cao nhất của niềm tin là những "quan niệm" hay "tín niệm" chung.

Như vậy, theo tôi, "niềm tin" mà chúng ta đang bàn luận ở đây, không đơn thuần là một dạng nhận thức, hay cảm xúc. Nó là một quá trình phát triển từ tự tin, đến tin tưởng để hình thành nên niềm tin, quan niệm chung.

PV: Năm 2025 đã chứng kiến những thay đổi rất nhanh, chưa từng có và có sức tác động mạnh mẽ, từ chính sách, môi trường kinh doanh đến công nghệ, đặc biệt là sự phát triển chóng mặt của AI. Khi thế giới trở nên ngày càng khó dự đoán, theo ông, niềm tin của doanh nghiệp có bị tác động không?

Ông Trần Đình Cường: Chúng ta đang sống trong một thế giới mà EY gọi tắt là "NAVI", ở đó mọi thứ vận hành theo bốn đặc tính: thay đổi không theo trật tự tuyến tính (Non-linear), biến thiên nhanh (Accelerating), nhiều biến động (Volatile) và giàu kết nối (Interconnected).

Thế giới ấy khá "thất thường", khiến chúng ta khó dám "chắc chắn" về điều gì trong khi lại dễ dàng bị bất ngờ hơn. Dữ liệu theo khảo sát "Geostrategy in Practice" của EY-Parthenon từ năm 2021 đến 2025 cho thấy: nếu năm 2021 chỉ khoảng 1% lãnh đạo toàn cầu nói họ bị bất ngờ bởi các rủi ro chính trị và các tác động của chúng, thì con số này đã tăng lên 35% trong năm 2025.

2025 là minh chứng rõ ràng cho "thế giới NAVI" khi tình hình địa chính trị ở nhiều nơi trên thế giới leo thang, bùng phát rồi lắng xuống trong vài ngày đến vài tuần; các động thái thuế quan ở các nước lớn; các đợt tăng giảm lãi suất; hay tình hình lạm phát toàn cầu kéo theo sự "giật cục" của kinh tế thế giới. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn, hậu quả thiên tai khốc liệt hơn, mà ở Việt Nam, chúng ta cũng cảm nhận thấy rất rõ ràng, khi phải hứng chịu đến 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (nhiều nhất trong vài thập kỷ) và thiệt hại vô cùng lớn.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là "thế giới NAVI" chỉ mang gam màu xám của rủi ro, trái lại, nó là tiền đề cho những bước chuyển và cơ hội mang tính "đột phá".

Từ cuối 2024, chúng ta chứng kiến 7 nghị quyết chiến lược được ban hành - thể hiện khát vọng "cất cánh" của Việt Nam, trải rộng từ chuyển đổi số, hội nhập, pháp luật, kinh tế tư nhân đến an ninh năng lượng, giáo dục, y tế. Lần đầu tiên, trong một nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 68), kinh tế tư nhân được khẳng định là "động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế , lần đầu tiên Việt Nam có một nghị quyết dành riêng cho khoa học công nghệ (Nghị quyết 57), Nghị quyết 71 được xem như mở ra những "cú hích" phát triển chưa từng có tiền lệ cho ngành giáo dục. Và còn rất nhiều cái "lần đầu tiên", "chưa có tiền lệ" khác nữa từ các quyết sách được hình thành như là sự chuyển mình trước một thế giới đầy biến động, mà ở đó doanh nghiệp cần phải thay đổi để thích nghi và phát triển.

Vì vậy, "thế giới NAVI", khi được nhìn nhận từ cả góc độ rủi ro và cơ hội, cũng khiến niềm tin của doanh nghiệp trải qua nhiều cung bậc thăng trầm.

Khảo sát Niềm tin kinh doanh 2025, do Ban nghiên Cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thực hiện với hơn 1.500 doanh nghiệp trên cả nước vào giữa năm, cho thấy một tỷ lệ lớn (63,7%) doanh nghiệp nhìn nhận tình hình kinh tế vĩ mô là tiêu cực hoặc rất tiêu cực so với cùng kỳ năm 2024. Nhiều doanh nghiệp tính chuyện thu hẹp, tạm dừng hoặc ngừng hoạt động.

Đến nửa cuối năm, cùng với những thông tin tích cực từ thị trường quốc tế, các chính sách thúc đẩy kinh tế bắt đầu phát huy hiệu quả, niềm tin của doanh nghiệp với thị trường lại hồi phục. Riêng trong tháng 9 năm 2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đã tăng gấp hơn hai lần so với mức trung bình trong giai đoạn 2021-2024. Kéo theo đó là niềm tin của các nhà đầu tư. Công bố của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) cho thấy chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) của doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam quý IV năm 2025 lần đầu tiên đạt mức cao nhất trong 7 năm.

Nếu như trước đây, niềm tin của chúng ta tin có xu hướng đi theo một quỹ đạo tương đối ổn định, dựa trên các giả định nền, các phân tích, đánh giá, dự báo v.v. thì trong "thế giới NAVI" những biến động chính trị, kinh tế, chính sách, xã hội cùng sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ khiến chúng ta có cảm giác bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra chỉ sau một đêm. Điều này có thể dẫn đến sự hoang mang: Tôi đang tin tưởng điều gì? Và điều tôi tin hôm nay, liệu còn đúng ngày mai?

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 3.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 4.

PV: Xem ra trong "thế giới NAVI", khi mọi thứ biến động và khó lường hơn, ngay cả việc tin vào điều gì đó cũng ẩn chứa rủi ro. Như vậy, liệu doanh nghiệp có nên đặt cược "niềm tin" của mình vào những kết quả, viễn cảnh cụ thể nữa không?

Ông Trần Đình Cường: Theo tôi, hiện thực càng khó đoán định, chúng ta càng cần có niềm tin. Bởi niềm tin không chỉ là một cảm xúc, mà là nền tảng để dẫn lối hành động và kết nối con người. Nói cách khác, không có niềm tin mọi thứ khó lòng vận hành và chúng ta cũng khó đạt được một thành tựu lớn.

Sau 1986, Việt Nam bước vào Đổi mới trong bối cảnh cực kỳ bất định: hàng hoá khan hiếm, năng suất lao động thấp, kinh tế bị cô lập. Mười năm đầu sau thống nhất, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam chỉ vỏn vẹn 125-200 USD/năm, nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. Lạm phát cuối năm 1986 lên đến 700%.

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, vai trò của niềm tin lại quan trọng hơn bao giờ hết. Đảng và Nhà nước có sự tự tin vào khả năng vận dụng đúng đắn các các quy luật kinh tế để đưa đất nước đi lên, tin vào sức dân và cơ chế khuyến khích đúng, để đưa ra những chính sách mang tính cách mạng. Điển hình là Nghị quyết 10 (Khoán 10) năm 1988, trao quyền tự chủ cho hộ gia đình trong nông nghiệp, là tín hiệu cam kết, để hàng triệu người thay đổi cách làm và tạo ra tăng trưởng.

Sự tự tin đó lan tỏa, cho người nông dân lòng tin vào quyết tâm của hệ thống chính trị, tin vào một luật chơi mới đủ ổn định để họ đầu tư và chịu trách nhiệm. Kết quả là từ chỗ phải đổi vàng để nhập trên 1,5 triệu tấn gạo mỗi năm, chỉ một năm sau Khoán 10, Việt Nam lần đầu tiên đã trở thành nước xuất khẩu gạo vào tháng 11 năm 1989, khép lại thời kỳ thiếu thốn.

Trải qua tròn 40 năm đổi mới, cùng với những thành tựu đã đạt được, niềm tin vào con đường phát triển do Đảng lãnh đạo đã trở thành một niềm tin chung của dân tộc, là động lực để đưa Việt Nam từ một nước nghèo, trở thành quốc gia có quy mô GDP vượt ngưỡng 500 tỷ USD lọt top các nền kinh tế hàng đầu ASEAN.

Một ví dụ gần gũi hơn, để thấy niềm tin dù là một khái niệm trừu tượng, nhưng nó có tác động như thế nào đến cách mọi thứ vận hành ở thời đại chúng ta đang sống. Nếu một đồng bitcoin giai đoạn năm 2009-2010 được mua với giá chưa bằng một ly trà đá thì ngay ở thời điểm này có thể đang có giá hàng tỷ đồng. Nhưng sau một tuyên bố của một chính trị gia, hay một vị tỷ phú nào đó, trị giá của đồng bitcoin đó có thể giảm hàng chục thậm chí hàng trăm nghìn đô la chỉ trong vài giờ.

Điều gì khiến giá trị một đồng tiền số biến thiên với biên độ lớn đến vậy?

Về bản chất, giá trị tiền số không "neo" vào bất kỳ tài sản hay đồng tiền nào, mỏ neo lớn nhất của nó là niềm tin của các nhà đầu tư vào một "luật chơi" chung có thể biến sự "khan hiếm" của tiền số thành giá trị. Do đó, đôi khi chỉ một mẩu tin hay một dòng trạng thái của nhân vật nào đó đủ sức tác động đến niềm tin của các nhà đầu tư, nó cũng có thể kéo theo những "cơn thăng hoa" hay sụp đổ của giá trị đồng tiền số.

Trong kinh tế học hiện đại, niềm tin, khi được đo lường và theo dõi một cách hệ thống, trở thành những dữ liệu chiến lược phản ánh hành vi con người, và là một trong những chỉ báo quan trọng cho các chu kỳ kinh tế. "Chỉ số niềm tin người tiêu dùng" (Consumer Confidence Index – CCI) của tổ chức Conference Board đo lường mức độ lạc quan của người tiêu dùng Mỹ về tình hình và triển vọng kinh doanh ở thị trường trong nước là một ví dụ. CCI được sử dụng kết hợp với các chỉ số đo lường khác như những dữ liệu cơ sở quan trọng cho các báo cáo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Chính phủ Mỹ nhằm đánh giá triển vọng và xu hướng kinh tế vĩ mô.

Quay trở lại với câu hỏi, tôi cho rằng dù khó có thể so sánh câu chuyện niềm tin ở mỗi thời kỳ, bởi sự khác biệt bối cảnh và tình hình lịch sử, song vai trò của niềm tin đối với việc kết nối và dẫn dắt hành động của con người, giúp mọi thứ vận hành là không thay đổi. Và như vậy niềm tin luôn là một thứ giá trị, thậm chí ngày càng có giá trị cao.

PV: Nếu giữ nguyên niềm tin cũ, doanh nghiệp có thể bị tụt hậu trong thế giới thay đổi nhanh chóng, mà không dám tin, thì như ông nói, mọi thứ khó lòng vận hành. Đó có phải là thế "tiến thoái lưỡng nan" của niềm tin không?

Ông Trần Đình Cường: "Niềm tin giống như năng lượng, nó không mất đi, nó chỉ thay đổi dạng thức".

Tôi rất tâm đắc với phát biểu này của Rachel Botsman, tác giả cuốn "Who can you trust?", bàn luận về cơ chế hoạt động của niềm tin trong kỷ nguyên số. Vấn đề không phải là "có tin hay không", mà là đặt niềm tin vào đâu và tin như thế nào. Thay vì nói một cách chung chung "tôi tin đối tác này", thì nên cụ thể hoá niềm tin đó bằng cách nói "tôi tin đối tác này có thể làm được việc A trong bối cảnh B".

Niềm tin không phải một cái nhãn chung chung. Nó phân mảnh theo năng lực, vai trò và bối cảnh. Nói cách khác, niềm tin cũng có thể dịch chuyển khi bối cảnh thay đổi, điều này rất quan trọng trong thế giới biến thiên nhanh như hiện nay.

Sự chuyển đổi trong tư duy mua bán, đặc biệt là ngành bán lẻ, tại Việt Nam là một ví dụ. Nếu như trước COVID-19, đa số mọi người tin rằng mua bán trực tiếp là mặc định và mua sắm online là lựa chọn "cộng thêm", thì giãn cách xã hội suốt thời kỳ dịch bệnh đã thay đổi niềm tin của người dân và cộng đồng về sức mạnh của thương mại điện tử và tài chính số.

Tính từ sau COVID-19 đến năm 2025, thương mại điện tử đã tăng gấp ba lần, tốc độ trung bình 22-25%/năm. Thanh toán không tiền mặt bùng nổ với hơn 20,2 tỷ giao dịch/năm và giá trị ước gấp 26 lần GDP cả nước vào cuối 2025. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ truyền thống hiện nay cũng đặt coi việc mở rộng mô hình, chuyển đổi số, thúc đẩy thương mại điện tử là mục tiêu sống còn của tổ chức.

Như vậy niềm tin vào hoạt động mua bán không mất đi mà nó dịch chuyển. Niềm tin trước đây đặt vào việc "gặp mặt – cầm nắm – trả tiền mặt" không biến mất, nó dịch chuyển sang niềm tin vào hệ thống: vào sàn thương mại điện tử, vào ngân hàng, vào nền tảng công nghệ vào cơ chế đối soát và bảo vệ giao dịch. Khi bối cảnh thay đổi, "niềm tin" không mất đi, mà được đặt lại đúng chỗ, cụ thể hơn, có điều kiện hơn, và dựa trên những tín hiệu có thể kiểm chứng.

Trong "thế giới NAVI", bài toán vì thế không phải là cố giữ một niềm tin tuyệt đối, mà là học cách chuyển hóa niềm tin thành năng lực thích nghi: tin có cơ sở, tin đúng việc, đúng bối cảnh và sẵn sàng cập nhật khi thời cuộc thay đổi.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 5.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 6.

PV: Để tồn tại và phát triển trong thế giới NAVI, doanh nghiệp phải liên tục thay đổi niềm tin theo thời cuộc. Như vậy có "ba phải" quá không?

Ông Trần Đình Cường: Niềm tin có thể dịch chuyển; sự linh hoạt là cần thiết. Nhưng để không lạc lối giữa những vô vàn lựa chọn để tin, doanh nghiệp vẫn cần những giá trị cốt lõi để "neo" niềm tin của mình.

Dù hiểu rằng ngay cả các giá trị vững chắc nhất cũng có thể thay đổi, tôi cho rằng có một giá trị - một điểm "neo" niềm tin - mang tính nền tảng mà bất cứ ai trong chúng ta, từ cá nhân cho đến doanh nghiệp trong vai trò là một thành phần của cộng đồng, của xã hội đều cần hướng đến: Đó là sự tử tế, hướng thiện, hướng đến những điều đúng đắn phục vụ sự phát triển của con người trong mối quan hệ hoà hợp với tự nhiên.

Đồng hành với nhiều khách hàng trên chặng đường phát triển và vượt qua thách thức của họ, tôi nhận ra sự thành công bền vững của các doanh nghiệp có liên hệ chặt chẽ với niềm tin của lãnh đạo.

Một vị CEO từng chia sẻ với tôi rằng kiếm được tiền thì cũng "sướng" đấy, nhưng điều khiến anh hạnh phúc hơn là được hiện thực hóa điều mình tin là đúng: tạo ra những mô hình kinh doanh bền vững. Anh sẵn sàng rót hàng tỷ USD để kiên nhẫn nghiên cứu, hoạch định và đầu tư vào những dự án mà theo anh còn nhiều điều mới mẻ. Kết quả về lợi nhuận có thể đến chậm hơn so với các dự án khác, nhưng những giá trị lâu bền chúng mang lại cho không chỉ doanh nghiệp mà toàn ngành và cộng đồng thì rất lớn. Thực tế dự án đã có những thành tựu bước đầu, nhận được nhiều sự ủng hộ, và doanh thu hứa hẹn sẽ trở thành mũi nhọn trong hệ sinh thái tập đoàn.

Khi niềm tin vào điều tử tế là thật, được cảm nhận và được chứng minh bằng hành động, thậm chí bằng những lựa chọn có phần hy sinh của người lãnh đạo chứ không chỉ dừng ở khẩu hiệu truyền thông, thì niềm tin ấy trở thành một loại năng lượng có sức quy tụ, thu hút nguồn lực, sự đồng hành và hỗ trợ từ cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Ở tầng sâu hơn, lợi thế của doanh nghiệp không chỉ nằm ở chiến lược hay vốn, mà ở chỗ người lãnh đạo tin một cách nhất quán và khiến nhiều người khác cũng tin vào cùng một hệ giá trị nhân văn đó: Vì con người, vì sự tử tế.

PV: Điểm "neo" niềm tin mà ông vừa đề cập có phạm trù rất rộng, làm sao để doanh nghiệp không đưa con thuyền niềm tin của mình đi quá xa, hay thậm chí là có những niềm tin phi thực tế?

Ông Trần Đình Cường: Tôi nghĩ từ khoá ở đây là "biết người, biết ta". Khi chúng ta gắn niềm tin của mình với thời cuộc thì cũng đừng quên xem xét những thế mạnh, bản sắc và cả những giới hạn cố hữu của mình. Điều này nghĩa là cần xây dựng một niềm tin có lý trí. Điều này rất khác với xây dựng ước mơ.

Có thể ví dụ thế này: Kỷ nguyên AI và dữ liệu lớn đang mở ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam bứt lên. Có cơ sở để tin vào điều này, vì Việt Nam có dân số trẻ, nắm bắt công nghệ nhanh và môi trường chính sách ngày càng thuận lợi. Nhưng "niềm tin có cơ sở" cũng là hiểu rõ giới hạn.

Trong ngắn hạn, Việt Nam khó cạnh tranh trực diện ở những mảng công nghệ lõi mà nhiều nước đã đầu tư R&D hàng chục năm với ngân sách khổng lồ. Vì vậy, khôn ngoan là chọn đúng thế mạnh để kết hợp với thời cuộc.

Việt Nam vốn mạnh về nông nghiệp và xuất khẩu: riêng gạo năm 2024 đạt kỷ lục 9 triệu tấn, mang về 5,7 tỷ USD; nhiều mặt hàng như điều, tiêu, trái cây cũng vào nhóm tỷ USD. Nếu đưa công nghệ vào đúng các chuỗi giá trị này, có cơ sở để tin vào một viễn cảnh không xa, khi những người nông dân trẻ điều khiển drone tưới tiêu trên những cánh đồng canh tác theo chuẩn ESG, cảm biến đo từng chỉ số đất, nước, thời tiết, và AI giúp tối ưu mùa vụ. Niềm tin khi đó không còn là một hình dung đầy cảm tính về tương lai, mà là một kế hoạch có điểm tựa rõ ràng.

Nhưng ngay cả khi đã xây dựng được một niềm tin có cơ sở rồi, thì cũng cần nhớ rằng dù niềm tin có xây dựng trên một căn cứ hợp lý, nó vẫn có thể dịch chuyển. Quan trọng là niềm tin phải được neo vào một giá trị cốt lõi, mà theo tôi căn bản nhất vẫn là giá trị nhân văn, sự tử tế và những điều đúng đắn.

PV: Theo ông, đâu là chiến lược "xây dựng niềm tin" phù hợp cho các lãnh đạo doanh nghiệp trong "thế giới NAVI"?

Ông Trần Đình Cường: Niềm tin dù sao vẫn là một khái niệm mang tính trừu tượng và tính cá nhân cao, do đó khó có thể đưa ra những công thức cụ thể giống như nói về một chiến lược kinh doanh. Nhưng cá nhân tôi có ba nguyên tắc về xây dựng niềm tin mà các lãnh đạo có thể tham khảo:

Thứ nhất, hãy bắt đầu với việc vun đắp "sự tự tin" của mình. Đây là cái gốc trong "chuỗi tiến hoá" niềm tin. Như đã nói, thành công kết trái khi sự tự tin của một cá nhân hay một nhóm người phát triển thành lòng tin của những người xung quanh rồi cộng hưởng thành niềm tin, quan điểm chung của cộng đồng.

Sự tự tin đó cần được củng cố bằng việc liên tục học hỏi và trau dồi kiến thức, không ngại đặt ra những câu hỏi khó (ở EY chúng tôi gọi là "better question") để giải quyết các vấn đề quan trọng nhất của thời cuộc và hành động dựa trên những câu trả lời đúng đắn, song song với đó là rèn luyện tư duy dám trao quyền, dám đổi mới và thay đổi để tự hoàn thiện mình.

EY quan niệm rằng tương lai nên được kiến tạo, chứ không phải chỉ đơn thuần được đón nhận. Muốn làm vậy, chúng ta cần sự tự tin. Đó cũng là lý do "Tự tin kiến tạo tương lai" - "Shape the future with confidence" là phương châm hành động mới của EY Toàn cầu trong việc phục vụ và đồng hành cùng sự phát triển của khách hàng.

Thứ hai, hãy "đặt niềm tin đúng lúc và giữ vững giá trị". Trong Kinh Trung Bộ, Đức Phật có lấy ví dụ về chiếc bè để nói về tâm thế với chánh pháp: người ta cần chiếc bè để qua sông. Nhưng khi đã qua sông rồi, nếu vẫn vác bè lên vai mà đi tiếp, chiếc bè từ phương tiện sẽ trở thành gánh nặng.

Niềm tin cũng vậy. Ở mỗi giai đoạn, cần niềm tin để dám hành động, dám đầu tư, dám lựa chọn. Nhưng nếu bối cảnh đã đổi mà vẫn giữ nguyên một niềm tin cũ, về thị trường, về mô hình kinh doanh, về công nghệ, thậm chí về chính mình, thì chính niềm tin đó có thể kéo mình chậm lại. Vì thế, điều quan trọng không phải là "giữ niềm tin cho thật chặt", mà là giữ giá trị cốt lõi và linh hoạt trong cách đặt niềm tin.

Cuối cùng, niềm tin của lãnh đạo không đến từ lời nói, mà từ việc chứng minh bằng hành động nhất quán, dám chịu trách nhiệm, dám dấn thân cho điều mình tin là đúng. Một niềm tin mẫu mực phải giống như hình ảnh trái tim Danko trong văn học Nga – được Danko lấy ra từ lồng ngực mình và giương cao như ngọn đuốc sáng để tập hợp lòng tin và dẫn đường cho mọi người đi đến thảo nguyên của sự sống. Chỉ khi niềm tin gắn với "máu thịt", thể hiện bằng hy sinh và cống hiến thật sự, người ta mới sẵn sàng bước theo. Và tôi cho rằng doanh nghiệp chỉ có thể thành công bền vững khi những người lãnh đạo có đủ niềm tin và đủ sức làm cho nhiều người tin vào những giá trị nhân văn, đúng đắn mà doanh nghiệp đang theo đuổi.

Lựa chọn của niềm tin - Ảnh 7.

Ghi chú: Quan điểm trong bài là của người trả lời phỏng vấn và không nhất thiết phản ánh quan điểm của tổ chức EY Toàn cầu và các thành viên.

Thực hiện: Hoàng Giang – H. Kim

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT