Một chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam tăng kỷ lục trong gần 1 thập kỷ: Toàn bộ 34 tỉnh, thành đều ghi nhận tăng trưởng
Chỉ số sản xuất công nghiệp của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực trong tháng 7/2026. Tính chung bảy tháng, IIP tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong giai đoạn 2019-2026, với công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò động lực chính.
Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và bảy tháng năm 2026 của Cục Thống kê, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7 ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy hoạt động sản xuất tiếp tục được mở rộng, trong bối cảnh nhiều năng lực sản xuất mới được đưa vào vận hành.
Tính chung bảy tháng năm 2026, IIP toàn ngành công nghiệp tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng cao nhất của bảy tháng trong nhiều năm qua, vượt mức tăng 8,4% của cùng kỳ năm 2025 và 8,5% của năm 2024.

Chỉ số sản xuất công nghiệp bảy tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2019-2026. Nguồn: NSO
Trong tháng 7, một số ngành công nghiệp chính đều ghi nhận mức tăng hai chữ số so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, ngành chế biến, chế tạo tăng 15%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,5%; khai khoáng tăng 10,4%.
Xét trong bảy tháng, ngành chế biến, chế tạo tăng 12%, cao hơn mức tăng 10,1% của cùng kỳ năm 2025, đóng góp 9,3 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 6,6% (cùng kỳ năm 2025 giảm 2,4%), đóng góp 1,0 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,8%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,0% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,1%), đóng góp 0,2 điểm phần trăm.
Bên cạnh đó, nhiều ngành công nghiệp cấp II ghi nhận mức tăng khá cao. Dẫn đầu là sản xuất kim loại với mức tăng 23,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 16%; sản xuất đồ uống tăng 15,7%. Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại và sản xuất phương tiện vận tải khác cùng tăng 13,5%.
Một số ngành có quy mô quan trọng khác cũng duy trì đà tăng hai chữ số, như sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,5%; chế biến thực phẩm tăng 11,2%. Ở chiều ngược lại, khai thác than cứng và than non giảm 3,1%.
IIP tăng tại cả 34 địa phương
Một điểm đáng chú ý là chỉ số sản xuất công nghiệp bảy tháng năm 2026 tăng tại cả 34 tỉnh, thành phố. Trong đó, Hà Tĩnh dẫn đầu với mức tăng 36,8%, tiếp theo là Ninh Bình tăng 27%, Phú Thọ tăng 23,8%, Nghệ An tăng 21,5% và Thái Nguyên tăng 21%.
Kết quả tích cực tại các địa phương này chủ yếu đến từ sự tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. Riêng tại Hà Tĩnh, chỉ số ngành chế biến, chế tạo tăng 34,6%, trong khi sản xuất và phân phối điện tăng 54%.

10 địa phương có chỉ số IIP tăng cao nhất. Nguồn: NSO
Ở nhóm tăng thấp, Lai Châu đạt 3,4%; Sơn La tăng 3,8%; Lào Cai tăng 5,7%; Lạng Sơn tăng 6,9% và Gia Lai tăng 8%. Sự chênh lệch cho thấy động lực công nghiệp giữa các địa phương vẫn có sự phân hóa, phụ thuộc vào cơ cấu ngành và tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất lớn trên địa bàn.
Việc làm công nghiệp tiếp tục cải thiện
Cùng với đà tăng của sản xuất, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm ngày 1/7/2026 tăng 1% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm 2025.
Trong đó, lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 3,3% so với cùng kỳ. Lao động trong ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,4%.
Riêng ngành khai khoáng, số lao động chỉ tăng 0,1% so với tháng trước và giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với diễn biến còn khó khăn tại một số ngành khai thác.
Giang Anh