Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026

Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV, với nền tảng ấn tượng của năm 2025, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đột phá về thể chế, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện; các động lực tăng trưởng được làm mới và phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế Việt Nam năm 2026 có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng.

LTS: TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV vừa công bố báo cáo đánh giá về kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026. Chúng tôi xin đăng nguyên văn báo cáo để quý độc giả tiện theo dõi.

----------

Bối cảnh kinh tế thế giới năm 2025 và triển vọng năm 2026

Kinh tế thế giới đã cho thấy năng lực chống chịu tốt hơn kỳ vọng trước các cú sốc địa chính trị và áp lực thuế quan mới của Mỹ nhờ sự chủ động thích ứng của các chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và người dân; động lực tăng trưởng cũng đến từ đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, đổi mới - sáng tạo và sự điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ, bước vào trạng thái "bình thường mới" dù còn mong manh và phân hóa, cơ hội và rủi ro, thách thức đan xen. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu ước đạt mức 2,7-3,2% năm 2025 và khoảng 2,6-3,1% năm 2026, thấp hơn 0,2-0,3 điểm so với năm2023-2024, với sự phân hóa rõ rệt(khoảng 2,5 điểm %) giữa nhóm các nước phát triển và nhóm các thị trường mới nổi. Thương mại toàn cầu năm 2026 dự báo tăng 2,3%, thấp hơn mức tăng 3,6năm 2025, chủ yếu là do xung đột địa chính trị, chính sách thuế quan, cạnh tranh thương mại và công nghệ, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng vẫn tiềm ẩn. Điểm sáng là lạm phát toàn cầu tiếp tục đà giảm từ mức 4,2% năm 2025 xuống 3,6% năm 2026 (theo IMF, 10/2025), tạo điều kiện giảm lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, các yếu tố bất định như xung đột địa chính trị và cạnh tranh chiến lược về thương mại – công nghệ, bảo hộ thương mại gia tăng, rủi ro nợ công - nợ tư còn cao; rủi ro an ninh mạng, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, chuỗi cung ứng và biến đổi khí hậu, thiên tai bất thường vẫn luôn hiện hữu…v.v.

Kinh tế Việt Nam năm 2025: Ấn tượng và nền tảng

Kinh tế Việt Nam năm 2025 được đánh giá là "Ấn tượng" dù trong bối cảnh rủi ro, thách thức và cơ hội đan xen, với thách thức chiếm ưu thế như nêu trên, tạo "Nền tảng" cho đà tăng trưởng 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, với sáu điểm sáng nổi bật như sau.

Một là, dấu ấn điều hành quyết liệt, linh hoạt, nhất quán, thúc đẩy tăng trưởng cùng với kiên định ổn định kinh tế vĩ mô

Năm 2025 là một năm đặc biệt trong điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam khi thực hiện "tam giác mục tiêu". Đó là quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, và bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với đó, cuộc cách mạng về thể chế, tinh gọn tổ chức - bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai đồng bộ, quyết liệt; cùng với việc phòng chống, khắc phục thiên tai bất thường, đảm bảo trật tự, an ninh và an sinh xã hội...v.v.

Với quyết tâm chính trị cao, tinh thần khẩn trương, quyết liệt, Đảng và Nhà nước đã ban hành và chỉ đạo thực hiện 9 quyết sách chiến lược, 99 Luật, Nghị quyết, 377 Nghị định cùng nhiều văn bản hướng dẫn khác – nhiều nhất từ trước đến nay, tạo đột phá về thể chế, KHCN, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước và dần hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới. Chính sách tài khóa có trọng tâm, trọng điểm, tiếp tục hỗ trợ tài khóa (gần tương tự giai đoạn dịch Covid-19), đẩy mạnh giải ngân đầu tư công. Chính sách tiền tệ nới lỏng thận trọng, linh hoạt với vai trò "neo ổn định" thông qua điều hành lãi suất, tín dụng, tỷ giá linh hoạt và tăng cường giám sát an toàn hệ thống. Sự phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách vĩ mô khác góp phần quan trọng trong việc đạt các mục tiêu đề ra.

Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026 - Ảnh 1.

Việt Nam thuộc nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật về tăng trưởng và ổn định vĩ mô

Hai là, tăng trưởng bứt phá, thuộc nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật về tăng trưởng và ổn định vĩ mô; chất lượng tăng trưởng cải thiện tích cực. Tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, GDP cả năm tăng 8,02%, đạt mục tiêu đề ra, thuộc nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật về tăng trưởng và ổn định vĩ mô (theo WB-B-ready report), động lực tăng trưởng đến từ cả phía cung và phía cầu và tăng trưởng cao của nhiều đầu tàu kinh tế.

Về phía cung, cấu trúc tăng trưởng theo hướng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ là chủ đạo, với giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, cao nhất trong 3 khu vực và là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 7 năm, đóng góp 3,37 điểm % (43%trong mức tăng trưởng chung), trong đó GDP xây dựng tăng 9,62% (đóng góp 7,3%); công nghiệp chế biến - chế tạo tăng 9,97%, cao nhất giai đoạn 2019-2025, đóng góp 2,44 điểm % (30,5%). Lĩnh vực dịch vụ tăng 8,62% và đóng góp cao nhất (3,69 điểm % hay 46%) vào mức tăng trưởng chung. Lĩnh vực nông - lâm - thủy sảndù chịu ảnh hưởng tiêu cực của thiên tai, bão lũ songtiếp tục là bệ đỡ vững chắc của nền kinh tế, duy trì mức tăng trưởng khá 3,78%,cao nhất trong vòng 7 năm, đóng góp 0,44 điểm % (tương đương 5,5%) vào mức tăng trưởng chung.

Về phía cầu, tiêu dùng cuối cùngtăng7,95%, đóng góp 4,98 điểm % (61%) vào mức tăng trưởng chung nhờ hiệu quả của các chính sách kích cầu, xúc tiến du lịch và sự bứt phá của thương mại điện tử. Trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 9,2% (loại trừ yếu tố giá tăng 6,7%); khách quốc tế đạt kỷ lục 21,2 triệu lượt (tăng 20,4%); thương mại điện tử tăng 20% (quy mô khoảng 32 tỷ USD, chiếm 43% quy mô kinh tế số theo nghĩa hẹp). Tích lũy tài sản (đầu tư) tăng 8,68%,đóng góp 3,05 điểm % (38%) vào mức tăng trưởng chung nhờ tăng trưởng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 12,1%, cao nhất trong vòng 8 năm, trong đó đầu tư công tăng 26,6% (đóng góp 1,9 điểm % hay 23% vào tăng trưởng GDP), đầu tư tư nhân tăng 8,4%, và giải ngân FDI đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9% (thuộc Top 20 quốc gia thu hút FDI lớn nhất thế giới) …v.v.

Về xuất khẩu ròng, quy mô xuất - nhập khẩu hàng hóa đạt kỷ lục 930 tỷ USD (cả dịch vụ đạt 1.000,85 tỷ USD), gấp 1,7 lần năm 2020, thuộc Top 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.Cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 20 tỷ USD, cán cân dịch vụ thâm hụt 10,2 tỷ USD, dẫn đến cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ thặng dư 9,8 tỷ USD (thấp hơn mức 15,6 tỷ USD năm 2024), đóng góp gần 2% vào mức tăng trưởng chung.

Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, chất lượng tăng trưởng và đời sống dân sinh được cải thiện tích cực: Quy mô nền kinh tế ước đạt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức trở thành quốc thu nhập trung bình cao. Năng suất lao động tăng 6,83%(cao hơn mục tiêu 5,4%); đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt khoảng 47%,vượt mục tiêu là 45%; thu nhập bình quân người lao động đạt 8,4 triệu đồng/tháng năm 2025, gấp 1,5 lần năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,3% (từ 4,4% năm 2021); hoàn thành cơ bản mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước và chiến dịch Quang Trung về xây mới, sửa chữa nhà ở sau bão lũ cơ bản đạt kế hoạch thần tốc đề ra.

Ba là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 tăng 3,31%, chủ yếu là do 4 nhóm hàng hóa, dịch vụ có mức tăng và đóng góp đến 94,1% vào mức tăng CPI chung là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 13,07%, chiếm 21,28% trong mức tăng CPI; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,08%, chiếm 34,57% trong mức tăng CPI; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,27%, chiếm 33,15% trong mức tăng CPI; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,78%, chiếm 5,1% trong mức tăng CPI chung), trong khi một số nhóm giảm giá (giao thông giảm 2,14%, bưu chính – viễn thông giảm 0,45%)…v.v. Lạm phát cơ bản tăng 3,21so với cùng kỳ năm 2024, thấp hơn mức tăng của lạm phát tổng thể (3,31%), chủ yếu là do tăng giá của các nhóm ngoài lõi trong khi áp lực cầu kéo còn thấp, phần khác là do vòng quay tiền còn chậm (0,65 lần, tương đương năm 2024 và thấp hơn mức trước dịch 0,75 lần) dù cung tiền M2 tăng khá cao (khoảng 15,7%, cao hơn mức tăng 10,6% năm 2024).

Lãi suất, tỷ giá tăng trong tầm kiểm soát; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), thị trường bất động sản (BĐS) trên đà phục hồi dù còn rủi ro. Chỉ số VNIndex tăng 40,9%, mức cao nhất trong vòng 8 năm; giá trị phát hành mới TPDN đạt 580,6 nghìn tỷ USD, tăng 34,3% so với năm 2024; nguồn cung nhà ở và nhà ở xã hội tăng). Nợ công năm 2025 ước ở mức 36% GDP, thâm hụt ngân sách 3,6% GDP, thấp hơn nhiều so với ngưỡng Quốc hội cho phép; nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ tương đương 24% thu NSNN (dưới ngưỡng 25% theo quy định).

Bốn là, hoạt động doanh nghiệp có nhiều dấu hiệu khởi sắc: năm 2025, số doanh nghiệp gia nhập thị trường cao gần gấp hơn 1,3 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; khoảng 3.200 hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên hơn 1 triệu. Nhiều doanh nghiệp tư nhân triển khai hoặc tham gia các chương trình, dự án lớn, phát triển nhà ở xã hội, ứng dụng KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đạt kết quả quan trọng. Kết quả này phản ánh niềm tin kinh doanh phục hồi và hiệu quả ban đầu thực thi Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và các quyết sách chiến lược về đột phá thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh.

Năm là, thu ngân sách Nhà nước (NSNN) tăng mạnh nhờ đà tăng trưởng tích cực của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu; giải ngân đầu tư công đạt kỷ lục: thu NSNN năm 2025 tăng 29,7% và vượt 34,7% dự toán, phản ánh sự phục hồi mạnh của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu, cùng với việc mở rộng cơ sở thuế và tăng thu từ nhà đất, thương mại điện tử, nền tảng số...trong khi vẫn duy trì chính sách tài khóa mở rộng có trọng điểm. Tổng quy mô hỗ trợ (giãn, hoãn, giảm thuế phí, tiền sử dụng đất…) khoảng 250 nghìn tỷ đồng, thực chi gần 80 nghìn tỷ đồng.Chi NSNN tăng 31,2%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 38,3% nhờ giải ngân đầu tư công đạt 850 nghìn tỷ đồng, đạt 83,7% kế hoạch, tăng 26,6% (hay 189 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối), cao nhất trong vòng 8 năm.

Sáu là, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả nổi bật được các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao: năm 2025, Việt Nam tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại quan trọng như Lễ mở ký Công ước Liên Hợp Quốc về chống tội phạm mạng, Diễn đàn Tương lai ASEAN, Hội nghị Thượng đỉnh P4G lần thứ 4 và Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội; nâng số Đối tác Chiến lược Toàn diện lên 14 quốc gia…v.v. Ngoại giao kinh tế được đẩy mạnh với các đối tác lớn, tham gia tích cực các cơ chế đa phương như G20, BRICS, APEC, UNOC3 và thúc đẩy đàm phán các FTA mới với MERCOSUR, EFTA, GCC…, qua đó mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch và KHCN, nâng cao vị thế quốc tế và huy động nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững thời gian tới.

Về một số thứ hạng quốc tế, Việt Nam đứng thứ 2 ASEAN về đầu tư khởi nghiệp AI; xếp thứ 55 thế giới và thứ 5 ASEAN về hệ sinh thái khởi nghiệp; đứng thứ 6/40 về Chỉ số AI; giữ vị trí 44/139 về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), thứ 3 ASEAN; hệ số tín nhiệm quốc gia chỉ còn cách mức Đầu tư 1 bậc (theo đánh giá của S&P và Fitch); Chỉ số Hạnh phúc xếp thứ 46/143 thế giới và thứ 2 ASEAN, tăng 8 bậc so với năm 2024; Top 10 điểm đến du lịch hấp dẫn và quốc gia thân thiện nhất thế giới…v.v.

Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026 - Ảnh 2.

Năm 2025 thu ngân sách Nhà nước (NSNN) tăng mạnh nhờ đà tăng trưởng tích cực của sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu; giải ngân đầu tư công đạt kỷ lục

Sáu rủi ro, thách thức chính trong năm 2025 và dự báo năm 2026

Một là, nhiều rủi ro, thách thức vẫn hiện hữukhó đoán định: (i) rủi ro địa chính trị và căng thẳng thương mại - công nghệ; (ii) tăng trưởng chậm lại tại nhiều nền kinh tế lớn, chủ yếu là do chính sách thuế quan của Mỹ, tác động nhiều đến Việt Nam; (iii) lạm phát và lãi suất toàn cầu dù giảm nhưng còn ở mức cao, làm tăng rủi ro nợ công và nợ tư; và (iv) rủi ro an ninh phi truyền thống như an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng - dữ liệu, thiên tai và biến đổi khí hậu cực đoan, khó lường.

Hai là, động lực tăng trưởng chưa đồng đều, còn dựa nhiều vào các yếu tố mang tính "đẩy" hơn là "kéo: sức cầu tiêu dùng phục hồi chậm khi tổng mức bán lẻ tăng 9,2%, chưa đạt mục tiêu 12% và nếu loại trừ yếu tố giá chỉ bằng khoảng 70% mức tăng giai đoạn 2018-2019; lượng khách quốc tế vẫn thấp hơn mục tiêu 25 triệu lượt, chi tiêu chưa tăng mạnh. Xuất khẩu hàng hóa đang chậm lại (từ tháng 9/2025 đến nay), chủ yếu là do ngấm thuế quan hơn, thặng dư thương mại hàng hóa chỉ bằng 75% năm 2023-2024 trong khi nhập siêu dịch vụ còn cao như nêu trên. Xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu và giảm 6,1% so cùng kỳ, trong khi của khu vực FDI ngày càng chiếm tỷ trọng cao (77,3%) và tăng 26,1%, chứng tỏ sức chống chịu của doanh nghiệp trong nước còn yếu và chưa tận dụng tốt các FTA. Cơ cấu thị trường vẫn mang tính tập trung cao, trong đó Mỹ chiếm 32,2% kim ngạch xuất khẩu và xuất siêu sang Mỹ tăng 28,2%; nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc chiếm hơn 40% kim ngạch nhập khẩu, nhập siêu từ Trung Quốc tăng 39,6%, làm gia tăng rủi ro chuỗi cung ứng. Năm 2026, xuất khẩu hàng hóa dự báo tăng 12-14%, thấp hơn năm 2025.

Hoạt động đầu tư chưa thực sự bứt phá khi vẫn còn 22 bộ ngành và 18 địa phương giải ngân đầu tư công dưới mức bình quân; đầu tư tư nhân phục hồi khá (tăng 8,4% so với mức tăng 7,3% của năm 2024), nhưng chỉ bằng khoảng 60% mức tăng trước dịch, trong khi vốn FDI đăng ký mới giảm 12,2% so cùng kỳ, vốn FDI bổ sung tăng không đáng kể (0,8%) cho thấy cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư - kinh doanh.

Ba là, chất lượng tăng trưởng cải thiện nhưng chưa bền vững: năng suất lao động năm 2025 tăng khá đạt 6,83%, nhưng bình quân giai đoạn 2021-2025 ước chỉ tăng khoảng 5%, khá xa mức mục tiêu là 6,5%/năm; hiệu quả đầu tư còn thấp (hệ số ICOR dù cải thiện từ mức 15,6 lần năm 2021 xuống còn khoảng 5 lần song vẫn cao gấp 1,6 lần mức khuyến cáo của IMF, hệ số ICOR của khu vực Nhà nước vẫn cao nhất trong 3 khu vực kinh tế); quy mô kinh tế số đạt khoảng 14%, tăng 14,4% so với năm 2024 song chưa đạt mục tiêu 20% đến cuối năm 2025...v.v.

Bốn là, tỷ giá dù hạ nhiệt song còn chịu sức ép: Tỷ giá USD/VND năm 2025 tăng 3,1%so với cuối năm trước với ba lý do chính: (i) nguồn cung ngoại tệ chậm lại khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, thặng dư thương mại cả hàng hóa và dịch vụ ít hơn 2 năm trước và khối ngoại bán ròng mạnh trên thị trường chứng khoán (khoảng 5,2 tỷ USD năm 2025), khiến cán cân tài chính thâm hụt. Tình trạng găm giữ ngoại tệ và đầu cơ vàng còn phức tạp khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức cao (khoảng 15 triệu đồng/lượng). Tuy nhiên, áp lực tỷ giá đã và đang hạ nhiệt nhờ chênh lệch lãi suất VND-USD đang nhích lên khi Fed giảm lãi suất 3 lần năm 2025 và khoảng 1-2 lần trong năm 2026, cán cân thương mại kỳ vọng khả quan hơn, và thị trường vàng dần ổn định với Nghị định 232/2025/NĐ-CP về quản lý thị trường vàng có hiệu lực từ ngày 10/10/2025, cùng với việc NHNN tiếp tục đồng bộ chính sách bình ổn tỷ giá và thị trường vàng.

Năm là, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn nhiều vướng mắc; tình trạng lãng phí còn chậm khắc phục: dù đã có nhiều cải thiện tích cực song vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp còn nhiều vướng mắc, nhất là trong các lĩnh vực liên quan đến đất đai, xây dựng, đầu tư công, kế toán - tài chính, tư pháp…v.v. Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí (đặc biệt lãng phí đất đai, BĐS, tài sản công, đầu tư công, tài nguyên…) còn chậm được khắc phục, khiến việc huy động và phân bổ nguồn lực chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn.

Sáu là, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đô thị và các rủi ro phi truyền thống ngày càng rõ nét: năm 2025 (cao điểm là thời điểm cuối quý II và quý III) ghi nhận nhiều đợt thiên tai cực đoan gây thiệt hại lớn cho sản xuất – kinh doanh, hạ tầng và đời sống dân cư tại một số địa phương, thiệt hại tài sản ước tính gần 102,7 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2024, làm giảm 0,8% GDP năm 2025; dịch tả lợn châu Phi bùng phát mạnh trong quý III/2025 làm tổng đàn lợn giảm sâu ở nhiều địa phương (Cao Bằng giảm 20,5%, Lai Châu giảm 16,5%) và áp lực tăng giá cục bộ. Ô nhiễm môi trường tại một số thành phố lớn (như Hà Nội, TP. HCM....) còn phức tạp, cần có giải pháp căn cơ thời gian tới.

Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026 - Ảnh 3.

Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể tăng 9-9,5% (kịch bản cơ sở) hoặc khả quan hơn, khoảng 10% (kịch bản tích cực)

Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026

- Tăng trưởng GDP: với nền tảng ấn tượng của năm 2025, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, đột phá về thể chế, môi trường đầu tư - kinh doanh tiếp tục được cải thiện; các động lực tăng trưởng (cả truyền thống và mới) được làm mới và phát huy hiệu quả cao hơn; kinh tế vĩ mô năm 2026 dự báo tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của DN và người dân được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng. Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2026 có thể tăng 9-9,5(kịch bản cơ sở) hoặc khả quan hơn, khoảng 10% (kịch bản tích cực), tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình.

Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026 - Ảnh 4.

- Về lạm phát: CPI bình quân năm 2026 dự báo tăng khoảng 4-4,5%,cao hơn năm 2025 do áp lực chi phí đẩy (tiếp tục điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như tiền lương, giá điện…) và cả yếu tố cầu kéo khi cung tiền tăng ít nhất tương đương năm 2025, vòng quay tiền nhanh hơn (khoảng 0,7–0,75 lần) và độ trễ tăng cung tiền từ năm trước. Tuy vậy, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát nhờ xu hướng hạ nhiệt của giá cả, lạm phát toàn cầu, nguồn cung hàng hóa - dịch vụ thiết yếu trong nước được bảo đảm, tỷ giá và lãi suất cơ bản ổn định, cùng hiệu quả phối hợp chính sách ngày càng được cải thiện.

Bốn kiến nghị

Một là,tập trung thực thi hiệu quả các quyết sách chiến lược, các luật và nghị quyết đã ban hành, tạo nền tảng pháp lý vững chắc và môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch: toàn hệ thống chính trị cần triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV, các quyết sách chiến lược và các luật, nghị quyết, hướng dẫn đã ban hành; cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật; xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, khắc phục triệt để tình trạng lãng phí (nhất là các dự án, tài sản tồn đọng).

Hai là, mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên giai đoạn 2026-2030 cùng với ổn định kinh tế vĩ mô là rất thách thức, nhưng cũng là quyết định tiền đề tiến tới đạt các mục tiêu đề ra. Theo đó, cần làm mới động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới. Với các động lực truyền thống,cần giữ vững mặt trận xuất khẩu (gồm cả đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ), kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước, trong đó cải thiện thực chất môi trường đầu tư – kinh doanh, tăng niềm tin là then chốt.

Với các động lực mới: cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới (chuyển mạnh từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào KHCN, chuyển đổi số, cải cách, tăng năng suất và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn...). Theo đó, cần đẩy mạnh cải cách thể chế kinh tế, thực hiện hiệu quả các quyết sách chiến lược; đẩy mạnh ứng dụng KHCN, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng; phát triển các ngành công nghiệp chiến lược, công nghiệp văn hóa, du lịch - giải trí...); phát triển các thị trường, dư địa mới (như trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường carbon, tài sản mã hóa, giao dịch hàng hóa...); tạo điều kiện các đầu tàu kinh tế (như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, TP Huế, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Đồng Nai….) tăng tốc; quyết tâm tăng năng suất lao động (vừa là động lực mới, vừa góp phần tăng chất lượng tăng trưởng). Tất cả những yếu tố này cùng với việc đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế (như nêu dưới đây) sẽ giúp đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ngày càng nhiều hơn, chất lượng hơn.

Ba làkiên định ổn định kinh tế vĩ mô, theo đóchính sách tài khóa cần là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ, phối hợp hài hòa (với cả các chính sách vĩ mô khác) nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu (gồm cả điện năng), điều hành linh hoạt lãi suất - tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường BĐS, kiểm soát giá nhà đất và rủi ro liên thông giữa thị trường tài chính, tiền tệ - BĐS. Cùng với đó, sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ, theo đó tăng trưởng tín dụng chỉ nên duy trì mức vừa phải (15-16%) gắn với chú trọng phân bổ tín dụng hiệu quả, tăng quy mô tín dụng xanh, đa dạng hóa huy động vốn từ thị trường chứng khoán, trái phiếu, quỹ đầu tư; quyết tâm nâng hạng thị trường chứng khoán theo đúng lộ trình; vận hành trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tín chỉ carbon, tài sản mã hóa…theo kế hoạch, phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm, các loại nguồn vốn cho KHCN, đổi mới sáng tạo và năng lượng…v.v.

Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng: (i) đẩy nhanh tiến độxử lý các dự án còn vướng mắc, tồn đọng nhằm giải phóng nguồn lực, chống lãng phí, cũng là tăng hiệu quả đẩu tư; (ii) Chú trọng cơ cấu lại các DNNN, TCTD yếu kém còn lại, cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững (tăng tỷ trọng đầu tư cho KHCN, y tế, giáo dục, hạ tầng số và hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. …); (iii) Xây dựng Đề án chuyển đổi xanh quốc gia; đề án nâng cao sức chống chịu và tự chủ chiến lược của nền kinh tế và doanh nghiệp, nhất là lĩnh vực công nghiệp chiến lược, công nghiệp phụ trợ./.

H. Kim (Ghi theo Báo cáo của Nhóm tác giả)

Nguyễn Đức Hải

Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/buc-tranh-kinh-te-viet-nam-nam-2025-va-du-bao-nam-2026-205260113172632711.htm