
TS Bùi Ngọc Sơn
Mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ở mức hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang đặt ra bài toán lớn lên nhu cầu huy động vốn cho nền kinh tế. Theo Bộ Tài chính, tổng nhu cầu vốn cho 5 năm tới ước vào khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, nguồn lực từ ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20%, phần còn lại tương đương 80% sẽ phải huy động khu vực tư nhân và các nguồn vốn ngoài nhà nước.
Trong bối cảnh dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều, việc mở rộng và đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn, trở thành yêu cầu cấp bách.
Trả lời câu hỏi làm thế nào để dòng tiền đang nằm trong ngân hàng và các tài sản khác tham gia hiệu quả hơn vào nền kinh tế, chia sẻ trong chương trình “Tiền của bạn đang chảy đi đâu” của VTC News, TS Bùi Ngọc Sơn, Nguyên Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng tiền trong ngân hàng thực chất đã là tiền đang vận động trong nền kinh tế, không phải “tiền chết”.
“Tiền gửi ngân hàng đã được huy động và luân chuyển rồi. Vấn đề nằm ở chỗ cơ hội đầu tư của nền kinh tế như thế nào và mức lãi suất có đủ hấp dẫn để nhà đầu tư đưa tiền vào sản xuất hay không”, ông nói.
Theo ông Sơn, nguồn tiền “đóng băng” thực sự là lượng tài sản được người dân tích trữ dưới dạng vàng hoặc tiền mặt cất giữ trong nhà. Ông cho rằng điều quan trọng là phải có chính sách khiến người dân sẵn sàng bán vàng, đưa tiền ra mở cửa hàng hoặc đầu tư sản xuất - kinh doanh.
Trước đây, một số chuyên gia từng đề xuất phát hành chứng chỉ vàng để huy động nguồn lực trong dân. Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng điều này khó khả thi vì phụ thuộc vào niềm tin của người dân.
Ông đặt vấn đề: “Liệu có ai sẵn sàng đưa 100 cây vàng cho một tổ chức nào đó rồi chỉ cầm về một tờ giấy xác nhận sở hữu hay không?”.
Theo ông, muốn người dân đưa vàng hay tiền ra khỏi trạng thái tích trữ thì phải tạo được lợi ích đủ hấp dẫn, tức vẫn quay lại câu chuyện lãi suất và hiệu quả đầu tư. Vì vậy cần có một cách tiếp cận tổng thể với các cải cách mạnh mẽ để nền kinh tế trở nên dễ đầu tư hơn, khiến người dân và doanh nghiệp đều muốn bỏ vốn kinh doanh thay vì giữ tài sản trong nhà.
“Nếu người dân giữ vàng thì bản thân vàng không tạo ra lợi nhuận. Họ chỉ bán vàng khi thấy có cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn”, ông nói.
Ông cũng cảnh báo việc dòng tiền chỉ tập trung vào một vài loại tài sản sẽ rất nguy hiểm, dễ hình thành bong bóng tài sản như những gì từng xảy ra tại Trung Quốc.
Theo ông Sơn, đây là đặc điểm phổ biến ở các nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Sau một thời gian phát triển, người dân tích lũy được lượng tiền tiết kiệm lớn. Nhưng nếu môi trường kinh doanh còn nhiều rào cản, người dân khó đầu tư vào sản xuất thực thì dòng tiền sẽ chuyển sang đầu cơ tài sản tài chính và bất động sản.
“Khi đó nền kinh tế rất dễ rơi vào hỗn loạn tài sản”, ông nhận định.
Ông cho rằng điều quan trọng nhất là cải cách để dòng vốn trong nền kinh tế được lưu thông hiệu quả, khiến người dân muốn đầu tư sinh lời thay vì “chôn tiền” trong nhà.

Chuyên gia cho rằng vấn đề của thị trường hiện nay không phải thiếu kênh huy động vốn mà là thiếu cơ chế vận hành hiệu quả.
Liên quan đến ý kiến cần đa dạng thêm các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng như thị trường vốn hay quỹ đầu tư, ông Sơn cho rằng Việt Nam thực tế đã có đầy đủ các cấu phần này.
Theo ông, khi có tiền, người dân thường sẽ chọn gửi ngân hàng nếu muốn an toàn. Ngược lại, nếu nhìn thấy triển vọng trong các ngành như chip bán dẫn, đồ gỗ, giấy, dệt may hay da giày, họ có thể đầu tư qua thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, hiện nay là thị trường chứng khoán vẫn cần hoàn thiện pháp lý. Việc liên tục xuất hiện các vụ thao túng, xử lý nhà đầu cơ khiến niềm tin thị trường bị ảnh hưởng. Ngoài ra, ông cho rằng có một bất cập trong điều hành: mỗi khi hạ lãi suất, dòng tiền từ ngân hàng lại chảy mạnh sang chứng khoán để đẩy giá tài sản.
Theo ông Sơn, thị trường chứng khoán đúng ra phải là kênh bổ sung vốn cho doanh nghiệp sản xuất, chứ không phải phát triển bằng cách hút dòng tiền rẻ từ ngân hàng sang đầu cơ tài sản tài chính. “Đó là điểm chưa ổn trong cấu trúc dòng vốn hiện nay”, ông nhận định.
Vị chuyên gia nhấn mạnh vấn đề của thị trường hiện nay không phải thiếu kênh huy động vốn mà là thiếu cơ chế vận hành hiệu quả.
Ông lấy ví dụ nhiều doanh nghiệp gần như ngừng hoạt động, không có cải tổ đáng kể nhưng sau khi được mua lại thì giá cổ phiếu trên thị trường lại bị “thổi” lên rất cao, dù bản chất doanh nghiệp không thay đổi.
Trong khi đó, ở các nước phát triển, nhà đầu tư thường phải nghiên cứu rất kỹ trước khi xuống tiền. Họ xem báo cáo kiểm toán hàng năm, đánh giá hoạt động kinh doanh, tìm hiểu ban lãnh đạo có thay đổi gì hay không, doanh nghiệp có chiến lược mới hay triển vọng phát triển hay không. Chỉ khi thấy triển vọng rõ ràng, nhà đầu tư mới quyết định rót vốn.
“Việt Nam không phải không có các kênh đầu tư. Chúng ta có đầy đủ phần cứng như thị trường chứng khoán, ngân hàng hay các quỹ đầu tư. Nhưng phần mềm, tức thể chế và cách vận hành để các kênh này hoạt động hiệu quả, thì vẫn còn rất thiếu. Đây chính là câu chuyện cải cách thể chế”, ông nói.
Phan Trang
Đàm Thị Thuý Vân