Trong suốt tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn được xem là kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất của dân tộc. Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, mỗi giai đoạn đất nước phát triển mạnh mẽ đều gắn liền với sự thăng hoa của văn hóa.
Bước vào kỷ nguyên mới, khi thế giới đang tái định hình trật tự với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về bản sắc, sáng tạo và sức mạnh mềm, Việt Nam cần một "cú hích" mang tính chiến lược để đưa văn hóa trở thành động lực phát triển.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị ra đời trong bối cảnh đó, lần đầu tiên cụ thể hóa mục tiêu phát triển văn hóa bằng các chỉ tiêu định lượng rõ ràng.
Theo Nghị quyết, ngân sách nhà nước dành cho văn hóa được bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; công nghiệp văn hóa phấn đấu đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045.
Đồng thời, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành từ 5–10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang; xây dựng 5 thương hiệu liên hoan, lễ hội văn hóa – nghệ thuật mang tầm quốc tế.
Thành lập thêm 1–3 trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện; phấn đấu có thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO ghi danh.
Đến năm 2045, Việt Nam hướng tới mục tiêu lọt Top 3 ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm quốc gia, đồng thời nâng cao giá trị xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Concert “Tổ quốc trong tim” năm 2025 thu hút trên 50.000 khán giả, góp phần khẳng định vai trò của nghệ thuật biểu diễn trong việc lan tỏa giá trị văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, trao đổi với phóng viên, ông Phạm Văn Thủy – Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho biết, thời gian qua Bộ VH-TT&DL đã phát động mạnh mẽ các phong trào thi đua, khuyến khích địa phương và doanh nghiệp du lịch đổi mới sáng tạo trong từng sản phẩm, dịch vụ.
Đồng thời từng bước xây dựng hệ sinh thái du lịch thông minh, phát triển du lịch xanh, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.
"Đa dạng hóa sản phẩm là yêu cầu tất yếu, nhưng cốt lõi vẫn là phải hình thành được những sản phẩm văn hóa đặc thù, xuất phát từ nhu cầu thực sự của du khách, chứ không chỉ từ những gì chúng ta sẵn có", ông Phạm Văn Thủy nhấn mạnh.
Theo ông cùng với đó là yêu cầu tăng cường vai trò điều phối, hướng dẫn và liên kết các doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị du lịch, từ đón tiếp, vận chuyển, lưu trú, ẩm thực đến mua sắm nhằm tạo ra những gói sản phẩm hoàn chỉnh, đồng bộ và có sức cạnh tranh cao.
Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam cũng cho biết, một dấu mốc đáng chú ý trong tiến trình phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch là lần đầu tiên các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam được hội tụ đầy đủ, đồng bộ tại một sự kiện xúc tiến thương mại tầm quốc gia.
"Phân khu sản phẩm công nghiệp văn hóa tại Hội chợ Mùa Thu lần thứ nhất, với quy mô hơn 10.000 m², quy tụ hàng hóa của 12 ngành công nghiệp văn hóa đã trở thành điểm nhấn, thu hút sự quan tâm lớn của thị trường", ông Thủy thông tin.
Theo ông Thủy, hoạt động giao thương tại Hội chợ Mùa Thu lần I năm 2025 diễn ra hết sức sôi động, với doanh thu trực tiếp đạt gần 1.000 tỷ đồng; tổng giá trị các giao dịch, hợp đồng và biên bản ghi nhớ (MoU) đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng.
Riêng khu gian hàng địa phương ghi nhận doanh thu gần 500 tỷ đồng, "qua đó cho thấy tiềm năng rất lớn của công nghiệp văn hóa khi được tổ chức bài bản và kết nối hiệu quả", ông Thủy khẳng định.
Nhìn ở tầm dài hạn, trao đổi với Người Đưa Tin , TS. Phan Thanh Hải – Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Tp. Huế cho rằng mục tiêu đến năm 2045 công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 9% GDP mang hai lớp ý nghĩa quan trọng.
Theo TS. Hải, đây không chỉ là một con số kinh tế mà còn là tuyên bố về khát vọng và định vị quốc gia, thể hiện mong muốn của Việt Nam tham gia cuộc cạnh tranh toàn cầu bằng sáng tạo, nội dung, thương hiệu và sức mạnh mềm thay vì chỉ dựa vào gia công hay khai thác tài nguyên.
TS. Phan Thanh Hải – Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia - Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Tp. Huế.
Ở lớp ý nghĩa thứ hai, mục tiêu này cũng tạo ra "áp lực cải cách thể chế", bởi để đạt được 9% GDP, Việt Nam cần một hệ sinh thái đủ mạnh từ thị trường, doanh nghiệp sáng tạo, bảo vệ bản quyền, thiết chế vận hành hiện đại đến nền tảng dữ liệu và cơ chế thông thoáng để thu hút nguồn lực tư nhân.
"Nếu vẫn quản lý theo tư duy hành chính, nếu cơ chế đặt hàng tài trợ sáng tạo còn 'khó thở', thì mục tiêu này rất khó trở thành hiện thực", ông Hải thẳng thắn chỉ ra.
Đối với mục tiêu phấn đấu có thêm 8–10 di sản được UNESCO công nhận hoặc ghi danh, TS. Hải cho rằng cần nhìn nhận đây là một định hướng tích cực nhưng phải được hiểu đúng.
"UNESCO không phải là đích đến để chạy theo số lượng mà là chuẩn mực quốc tế giúp nâng cao chất lượng bảo tồn và quản trị di sản. Chỉ khi hồ sơ được chuẩn bị bài bản gắn với năng lực khoa học, sự tham gia của cộng đồng và sự cân bằng giữa bảo tồn với phát triển thì di sản mới thực sự trở thành nguồn lực bền vững", ông chia sẻ.
Bàn về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh (Đoàn Ninh Bình) cho biết, sau bốn năm triển khai Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa, Việt Nam đã từng bước hình thành và mở rộng nhiều lĩnh vực then chốt như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thời trang, quảng cáo, trò chơi điện tử, thiết kế sáng tạo, thủ công mỹ nghệ, xuất bản, du lịch văn hóa trong đó nghệ thuật biểu diễn và di sản văn hóa số nổi lên như những mũi nhọn mới.
"Nhiều sản phẩm văn hóa đã khẳng định được dấu ấn Việt Nam trên bản đồ khu vực thông qua các sự kiện quốc tế, lễ hội phim ảnh và các chương trình sáng tạo dành cho giới trẻ", bà Trần Thị Hồng Thanh nhấn mạnh.
Tuy nhiên, theo đại biểu quy mô thị trường văn hóa sáng tạo của Việt Nam hiện mới chỉ chiếm khoảng 4% GDP thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 7–10% của nhiều quốc gia trong khu vực.
Hạ tầng sáng tạo còn thiếu đồng bộ; cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường lao động sáng tạo chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; nhiều địa phương chưa xây dựng được chiến lược riêng cho công nghiệp văn hóa. Công tác quy hoạch, đào tạo nhân lực và liên kết vùng vì thế còn mờ nhạt, chưa tạo được sức lan tỏa.
Để ngành công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ, hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP và đến năm 2045 đạt 9% GDP, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh cho rằng trước hết cần hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách.
"Cần sớm ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm kiến tạo một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, rõ ràng. Đồng thời xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, trong đó quyền sở hữu trí tuệ của tác giả và nhà sáng tạo được bảo vệ hiệu quả", bà nêu rõ.
Năm 2025 du lịch Việt Nam đón trên 21 triệu lượt khách quốc tế, tổng thu từ du lịch vượt mốc 1 triệu tỷ đồng.
Cùng với đó là các chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai và chuyển đổi số cũng như tích hợp chính sách phát triển văn hóa, du lịch, truyền thông và công nghệ sáng tạo trong một khung chiến lược quốc gia thống nhất.
Giải pháp thứ hai được đại biểu nhấn mạnh là phát triển hệ sinh thái sáng tạo gắn với nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo bà Trần Thị Hồng Thanh, cần hình thành các trung tâm sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp văn hóa, ươm mầm ý tưởng và dự án nghệ thuật. Đồng thời đổi mới giáo dục nghệ thuật theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu thị trường và yêu cầu của chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa được xem là giải pháp then chốt.
"Cần phát triển hạ tầng số phục vụ sản xuất, phân phối và quảng bá sản phẩm văn hóa; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo trong bảo tồn di sản, du lịch văn hóa và nghệ thuật trình diễn", đại biểu Trần Thị Hồng Thanh đề xuất.
Giải pháp tiếp theo là tăng cường liên kết vùng và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư. Theo đại biểu, cần xây dựng các chuỗi giá trị văn hóa – du lịch sáng tạo theo vùng, gắn sản phẩm văn hóa với thương hiệu địa phương, song song đó khuyến khích doanh nghiệp tư nhân, các quỹ đầu tư và cộng đồng nghệ sĩ tham gia phát triển công nghiệp văn hóa theo mô hình đối tác công – tư.
Cuối cùng, đại biểu Trần Thị Hồng Thanh nhấn mạnh yêu cầu phát triển sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế.
"Cần đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thế giới thông qua phim ảnh, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, văn học và các sản phẩm số. Tăng cường quảng bá, tổ chức các tuần lễ văn hóa và lễ hội sáng tạo quốc tế tại Việt Nam để xây dựng hình ảnh đất nước năng động, sáng tạo", bà nói.
Tuyến bài "Khai mở sức mạnh văn hoá Việt Nam"
Bài 1: Sứ mệnh đi trước "soi đường"
Bài 2: Khơi nguồn sáng tạo, nuôi dưỡng niềm tin mới cho đội ngũ văn nghệ sĩ
Bài 3: Văn hóa gắn với sức mạnh kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 80
Đặng Thị Quỳnh
Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/khai-mo-suc-manh-van-hoa-viet-nam-bai-3-hien-thuc-hoa-thanh-suc-manh-kinh-te-20526012909230547.htm