
Ảnh minh họa
Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan, trong tháng 12/2025, xuất khẩu sắn của Việt Nam đạt 373.219 tấn, trị giá 135,1 triệu USD, tăng lần lượt 39,4% về lượng và 42,6% về kim ngạch so với tháng 11/2025.
Lũy kế trong năm 2025, xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn của Việt Nam đạt trên 3,9 triệu tấn, tương đương hơn 1,26 tỷ USD. So với năm 2024, sản lượng xuất khẩu tăng mạnh tới 52,2%, trong khi kim ngạch chỉ tăng 9,8%.
Xét về thị trường xuất khẩu sắn của Việt Nam năm 2025 tiếp tục tập trung chủ yếu vào thị trường Trung Quốc. Cụ thể, xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 3,7 triệu tấn, tương đương 1,17 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng lượng và 92,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sắn của cả nước. So với năm 2024, lượng xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 54,3% nhưng kim ngạch chỉ tăng 10,8%, phản ánh xu hướng giá xuất khẩu bình quân giảm và nguy cơ bị ép giá do phụ thuộc lớn vào một thị trường.

Ngoài Trung Quốc, Việt Nam còn xuất khẩu sắn sang một số thị trường khác như Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia và Philippines. Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu sang các thị trường này còn nhỏ, chưa đủ để tạo sự cân đối trong cơ cấu thị trường. Đáng chú ý, tại thị trường Đài Loan, mặc dù lượng xuất khẩu tăng 15,8% nhưng kim ngạch lại giảm 17,1%, cho thấy giá xuất khẩu sắn giảm mạnh và khả năng cạnh tranh còn hạn chế.
Theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, Việt Nam vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực, với nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho chế biến từ cả sản xuất trong nước và nhập khẩu. Tổng lượng cung sắn nguyên liệu của Việt Nam hàng năm đạt trên 18 triệu tấn tươi, trong đó, nguồn cung trong nước chiếm khoảng 58%, 42% còn lại là từ nhập khẩu với nguồn cung từ Lào và đặc biệt từ Campuchia, chiếm gần 100% lượng nhập khẩu.
Hiện nay, sắn lát khô và tinh bột sắn chưa qua chế biến sâu vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây là những sản phẩm có giá trị gia tăng thấp, dễ bị cạnh tranh và chịu áp lực giảm giá mạnh khi cung vượt cầu. Việc thiếu các sản phẩm chế biến sâu có hàm lượng công nghệ cao khiến hiệu quả xuất khẩu sắn chưa tương xứng với tiềm năng và quy mô sản xuất của Việt Nam.
Bên cạnh đó, xuất khẩu sắn còn mang tính thời vụ, phụ thuộc nhiều vào nhu cầu ngắn hạn và điều kiện thông quan. Các hợp đồng dài hạn và chuỗi liên kết ổn định giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ vẫn còn hạn chế, làm giảm tính bền vững của hoạt động xuất khẩu.
Trong năm 2026, để đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc thuận lợi, nhiều ý kiến cho rằng, cần tổ chức lại ngành hàng sắn theo chuỗi giá trị, trong đó hợp tác xã là hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu. Tập trung hình thành các vùng trồng sắn ổn định, có kiểm soát, gắn với nhu cầu chế biến; tăng cường vai trò của hợp tác xã trong tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ đầu vào, kiểm soát chất lượng và liên kết tiêu thụ.
Đa dạng hóa thị trường tiêu thụ và xuất khẩu, chủ động mở rộng thị trường chính ngạch, khai thác hiệu quả các FTA, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất; gắn phát triển thị trường với nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và xây dựng thương hiệu sản phẩm sắn Việt Nam.
Như Quỳnh
Nguyễn Đức Hải