Luật số 111/2025/QH15 về Luật Bảo hiểm tiền gửi có hiệu lực từ ngày 1/5/2026, thiết lập khung pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và củng cố sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng.
Tại Luật này quy định, tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi; góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.
Một điểm đáng chú ý của Luật này đó là cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia vào quá trình can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, xử lý tổ chức tín dụng thông qua các biện pháp như cho vay đặc biệt, mua trái phiếu dài hạn và cử nhân sự tham gia quản trị.

Ảnh minh họa
Ngoài ra, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) được trao quyền quy định hạn mức phí bảo hiểm tiền gửi, việc áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi đồng hạng hoặc phân biệt phù hợp với đặc thù hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam trong từng thời kỳ.
Bên cạnh đó, Thống đốc NHNN quy định mức chi trả tiền bảo hiểm từng thời kỳ. Khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 21 của Luật này, trong trường hợp đặc biệt, để đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, trật tự an toàn xã hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định hạn mức chỉ trả vượt hạn mức, tối đa bằng toàn bộ các khoản tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.
Ngày 31/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 3/2011/QĐ-TTg ngày 10/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 15/5/2026.
Đáng chú ý, Quyết định này sửa đổi, bổ sung Điều 9 Quy chế về phí bảo lãnh. Theo quy định mới, phí bảo lãnh bao gồm phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn là 500.000 đồng cho một hồ sơ và nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn; phí bảo lãnh vay vốn là 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
Phí bảo lãnh thu được, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được hạch toán toàn bộ vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản, giải thể và sau khi thanh lý, xử lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định xóa phí bảo lãnh.
Đồng thời, Quyết định số 12/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi, bổ sung Điều 20 Quy chế về nợ vay bắt buộc bảo lãnh và hoàn trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Cụ thể, sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam yêu cầu bên được bảo lãnh nhận nợ và ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh với Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Sau khi ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, bên được bảo lãnh chuyển thành bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các nội dung như lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh được xác định bằng lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh; lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn, mức lãi suất cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định;
Bên cạnh đó, thời gian trả nợ vay bắt buộc bảo lãnh là thời gian cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định căn cứ vào tình hình tài chính, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ vay của bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
Về bảo đảm cho khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện định giá lại tài sản bảo đảm. Trường hợp sau khi định giá, giá trị tài sản bảo đảm của dự án, phương án của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thấp hơn giá trị ghi sổ số dư nợ gốc và nợ lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam căn cứ vào tình hình tài chính, hoạt động, khả năng trả nợ của bên được bảo lãnh để thẩm định và quyết định việc bổ sung biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, các nội dung khác liên quan đến khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét thỏa thuận, thống nhất với bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh và quy định cụ thể tại hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
Bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh đã ký.
Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định có hiệu lực từ ngày 18/5/2026.
Đáng chú ý, Nghị định này quy định xử phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi Tòa án thụ lý yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản mà thực hiện một trong các hành vi như cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; từ bỏ quyền đòi nợ; thanh toán khoản nợ phát sinh trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; phân chia lợi nhuận, phân phối thu nhập.

Ảnh minh họa
Tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản có tài khoản thực hiện việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản sau khi nhận được quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án, trừ trường hợp có sự đồng ý bằng văn bản của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự, cũng có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Ngoài ra, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi thông đồng, móc nối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hoặc cá nhân, tổ chức khác để tẩu tán tài sản hoặc làm sai lệch các nội dung liên quan đến hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.
Cũng trong ngày 31/3/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh. Nghị định có hiệu lực từ ngày 20/5/2026.
Đáng chú ý, Nghị định này đã thực hiện điều chỉnh mức phạt đối với các hành vi không thông báo tập trung kinh tế. Cụ thể, phạt từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam, tổng doanh thu bán ra và tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt dưới 3.000 tỷ đồng trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng đối với từng doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có tổng tài sản trên thị trường Việt Nam hoặc tổng doanh thu bán ra hoặc tổng doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam đạt từ 3.000 tỷ đồng trở lên trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện tập trung kinh tế, nhưng không vượt quá 05% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.
Nghị định cũng bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm khắc như buộc chia tách doanh nghiệp, bán lại vốn góp hoặc tài sản nếu vi phạm quy định về tập trung kinh tế. Đồng thời, cơ quan quản lý có thẩm quyền có quyền kiểm soát giá mua, giá bán và các điều kiện giao dịch đối với các doanh nghiệp sáp nhập vi phạm.
Khánh Hân (t/h)
Đặng Thị Quỳnh
Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/loat-chinh-sach-kinh-te-noi-bat-co-hieu-luc-trong-thang-5-2026-205260429150618956.htm