
Sau thời gian chịu nhiều áp lực từ các yêu cầu kiểm dịch và kiểm soát chất lượng của thị trường nhập khẩu, xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam đang ghi nhận những tín hiệu phục hồi tích cực.
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt hơn 562 triệu USD, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước và chiếm khoảng 20,3% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước.
Riêng trong tháng 5, xuất khẩu sầu riêng đạt 269 triệu USD, tăng mạnh 278% so với tháng trước và tăng 32% so với cùng kỳ năm 2025.
Về cơ cấu, sầu riêng tươi tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với 483 triệu USD, tương đương 86% tổng kim ngạch, tăng 43% so với cùng kỳ. Sầu riêng đông lạnh đạt 78 triệu USD, tăng 60% và chiếm 14%, trong khi các sản phẩm chế biến mới chiếm khoảng 0,2%.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của sầu riêng Việt Nam. Trong 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 492 triệu USD, tăng 76,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm tới 87,5% tổng giá trị xuất khẩu sầu riêng.

Đánh giá về dư địa tăng trưởng của ngành hàng này tại tọa đàm "Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD?", ông Nguyễn Thanh Bình - Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), cho rằng sầu riêng vẫn là một trong những mặt hàng còn rất nhiều tiềm năng để đóng góp vào mục tiêu xuất khẩu của ngành nông nghiệp.
Theo ông Bình, Việt Nam hiện có khoảng 170.000 ha sầu riêng và sản lượng năm nay có thể đạt 1,8-2 triệu tấn, thậm chí vượt Thái Lan. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở sản lượng mà ở chất lượng sản phẩm.
Theo ông, một trong những nguyên nhân là tập quán canh tác còn mang tính nhỏ lẻ, việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong thời gian dài khiến nhiều vùng trồng tích tụ kim loại nặng và dư lượng hóa chất, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu của nhiều loại trái cây, trong đó có sầu riêng.
Bên cạnh đó, năng lực kiểm tra, kiểm định hàng hóa xuất khẩu cũng chưa theo kịp tốc độ phát triển của ngành. Thực tế cuối năm 2025 và đầu năm 2026 cho thấy nhiều lô trái cây xuất khẩu sang Trung Quốc phải chờ kiểm định, khiến thời gian thông quan kéo dài và phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.
Ông Bình cho rằng Việt Nam cần đầu tư thêm các cơ sở kiểm định ngay tại vùng nguyên liệu, đồng thời thúc đẩy kết nối dữ liệu với cơ quan chức năng Trung Quốc nhằm rút ngắn thời gian thông quan.
Theo ông, phía Trung Quốc đã đề xuất xây dựng mô hình "Cửa khẩu thông minh" và "Hải quan thông minh", trong đó toàn bộ dữ liệu hàng hóa được số hóa, kết nối giữa hải quan hai nước và công nhận kết quả kiểm định lẫn nhau. Đây sẽ là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả xuất khẩu nông sản trong thời gian tới.
Một vấn đề khác được Chủ tịch Vinafruit nhấn mạnh là việc mở rộng mã số vùng trồng. Hiện mới khoảng 30-40% diện tích sầu riêng của Việt Nam được cấp mã số vùng trồng, đồng nghĩa vẫn còn dư địa lớn để mở rộng vùng đủ điều kiện xuất khẩu nếu đẩy nhanh quá trình đàm phán và cấp phép với phía Trung Quốc.
Theo ông, thay vì tiếp tục chạy theo sản lượng, ngành sầu riêng cần chuyển mạnh sang tư duy lấy chất lượng và an toàn thực phẩm làm trọng tâm.
"Nếu chúng ta không thay đổi tư duy về chất lượng, phải đưa tiêu chuẩn chất lượng và an toàn lên hàng đầu thì khách hàng nước ngoài cũng như các nước nhập khẩu sẽ từ chối hàng hóa của chúng ta", ông Bình nhấn mạnh.
Trong bối cảnh xuất khẩu đang phục hồi mạnh, các chuyên gia cho rằng việc nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu, mở rộng mã số vùng trồng, tăng cường năng lực kiểm định và đẩy mạnh số hóa chuỗi xuất khẩu sẽ là những yếu tố quyết định để sầu riêng duy trì tốc độ tăng trưởng và tiếp tục là một trong những ngành hàng chủ lực của nông nghiệp Việt Nam.
Khánh Vy
Nguyễn Đức Hải