
Theo số liệu mới nhất từ Cục Hải quan, tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2026, Việt Nam đã xuất khẩu tổng cộng 2,8 triệu tấn gạo, thu về 1,3 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, con số này ghi nhận mức giảm nhẹ 1,3% về lượng và giảm 10,5% về trị giá. Nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm về kim ngạch là do giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 469 USD/tấn, thấp hơn khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính riêng nửa đầu tháng 4, lượng gạo xuất khẩu đạt hơn 530.000 tấn, tương đương 246,4 triệu USD.
Điểm sáng lớn nhất trong bức tranh xuất khẩu quý I/2026 nằm ở các thị trường truyền thống. Philippines tiếp tục khẳng định vị thế là khách hàng lớn nhất của gạo Việt Nam với khối lượng nhập khẩu gần 1,2 triệu tấn, đạt trị giá 521,2 triệu USD.
So với cùng kỳ năm trước, thị trường này đã tăng trưởng mạnh 21,3% về lượng và 6,7% về giá trị. Hiện tại, riêng Philippines đã chiếm tới 52,4% tổng lượng gạo xuất khẩu của toàn ngành, tăng đáng kể so với mức 48,5% của năm ngoái.

Philippines và Trung Quốc đồng loạt săn mua gạo Việt Nam.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng có sự bứt phá ngoạn mục khi vươn lên vị trí thứ hai. Quốc gia này đã nhập khẩu hơn 334.500 tấn gạo từ Việt Nam, tăng 44,1% về lượng và 44,4% về trị giá, đưa thị phần của Trung Quốc tăng từ 10,1% lên 14,7%.
Bên cạnh hai "ông lớn" này, nhiều thị trường khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng như Malaysia tăng 36,2%, Ả Rập Xê út tăng gần 68%, Australia tăng 25% và Mỹ tăng 6,3%.
Ngược lại, lượng gạo xuất khẩu sang một số khu vực lại có dấu hiệu sụt giảm. Cụ thể, tại châu Á, Singapore giảm 7,9%, thị trường Hong Kong (Trung Quốc) giảm 13,3%. Các thị trường châu Phi như: Ghana giảm 17,9%, Bờ Biển Ngà giảm 51,1%, Mozambique giảm 39,5% và Senegal giảm tới 98,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tại thị trường trong nước, giá lúa gạo ghi nhận sự ổn định trong ngày 28/4. Tại khu vực An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 đang duy trì mức 8.400 - 8.450 đồng/kg, trong khi gạo Đài Thơm 8 dao động từ 9.200 - 9.400 đồng/kg. Giá lúa tươi tại ruộng cũng không có nhiều biến động, phổ biến ở mức 5.400 - 6.100 đồng/kg tùy chủng loại.
Trong phiên họp Quốc hội mới đây, ông Trịnh Việt Hùng - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, với khoảng 3,57 triệu ha đất trồng lúa vào năm 2030, Việt Nam vẫn có thể bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và duy trì xuất khẩu.
Năng suất lúa hiện đạt khoảng 6,2 tấn/ha, đứng thứ hai thế giới chỉ sau Ấn Độ, Việt Nam vẫn có khả năng giữ vững kim ngạch xuất khẩu gạo ở mức 5 tỷ USD mỗi năm, ngay cả khi dư địa tăng năng suất không còn quá lớn.

Việt Nam là quốc gia có năng suất lúa gạo lớn thứ 2 thế giới.
Về các chỉ số sản xuất, báo cáo từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ước tính diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt khoảng 7,09 triệu ha với sản lượng dự kiến 43,55 triệu tấn, tăng 12.000 tấn so với năm 2025. Đáng chú ý, nguồn cung lúa hàng hóa dành cho xuất khẩu năm nay ước tính đạt khoảng 15,45 triệu tấn, tương đương 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa.
Triển vọng này tiếp tục được củng cố tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu gạo năm 2026. Nhận định từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy bức tranh thị trường đang đón nhận nhiều tín hiệu đảo chiều tích cực. "Ngòi nổ" quan trọng nhất đến từ thị trường Philippines khi quốc gia này đẩy mạnh thu mua ngay từ đầu năm.
Không chỉ dừng lại ở Philippines, thị trường còn ghi nhận sự sôi động từ các "đối tác quen thuộc" như Trung Quốc, Bangladesh và khu vực châu Phi. Việc thực thi sâu rộng các thỏa thuận thương mại đã tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt, kết hợp cùng chất lượng hạt gạo không ngừng được nâng cao, giúp gạo Việt khẳng định vị thế và tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường toàn cầu.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý năm 2026 vẫn còn không ít thách thức. Để thâm nhập sâu vào các thị trường "khó tính" có biên lợi nhuận cao như EU hay Mỹ, ngành lúa gạo bắt buộc phải chuyển dịch mạnh mẽ sang các dòng sản phẩm đóng gói và có thương hiệu bài bản.
Đức Minh
Nguyễn Đức Hải