Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 1462/2026/DS-PT ngày 15/10/2026 của Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ, vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng xảy ra giữa một ngân hàng và bà Nguyễn Thị T.
Theo hồ sơ, ngày 2/1/2020, ngân hàng ký hợp đồng cho bà T vay 100 triệu đồng để phục vụ hoạt động buôn bán nhỏ lẻ. Khoản vay có thời hạn 120 ngày, lãi suất 16%/năm và lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, tương đương 24%/năm.
Trong số tiền vay, 30 triệu đồng là khoản vay tín chấp, 70 triệu đồng được bảo đảm bằng một xe mô tô đứng tên bà T.
Đáng chú ý, khoản vay này được thực hiện thông qua ông Trần Văn C, cộng tác viên của ngân hàng.
Theo hợp đồng dịch vụ ký từ tháng 8/2019, ông C có nhiệm vụ tư vấn sản phẩm, giới thiệu khách hàng, thẩm định và đề xuất cho vay. Đồng thời, ông được ngân hàng giao trực tiếp thu tiền trả góp của những khách hàng do mình giới thiệu và nộp lại cho ngân hàng hằng ngày.
Đổi lại, ông C được hưởng hoa hồng bằng 60% tổng số tiền lãi thu được từ người vay trả góp trong ngày.
Theo trình bày của ngân hàng, bà T có nghĩa vụ trả gốc 250.000 đồng và lãi 13.151 đồng mỗi ngày.
Ngân hàng cho rằng tính đến ngày 7/3/2020, bà T đã thanh toán tổng cộng hơn 56,1 triệu đồng, gồm hơn 53,3 triệu đồng tiền gốc và khoảng 2,8 triệu đồng tiền lãi. Sau thời điểm này, khách hàng ngừng thanh toán.
Đến ngày 31/12/2025, ngân hàng xác định bà T còn nợ hơn 113,4 triệu đồng, trong đó nợ gốc gần 46,7 triệu đồng, lãi trong hạn hơn 2,4 triệu đồng và lãi quá hạn hơn 64,3 triệu đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T thanh toán toàn bộ khoản nợ cùng lãi phát sinh. Đồng thời, ngân hàng đề nghị được xử lý chiếc xe mô tô đã cầm cố để thu hồi nợ.
Nếu tài sản này không còn hoặc không đủ giá trị thanh toán, ngân hàng yêu cầu xử lý thêm tài sản thế chấp là nhà, đất của ông C và vợ.
Tuy nhiên, bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Bà cho rằng mình đã thanh toán đầy đủ khoản vay thông qua ông C từ năm 2020. Sau khi tất toán, ngân hàng đã trả lại giấy tờ xe để bà bán cho người khác.
Ông C cũng xác nhận bà T đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ và được nhận lại giấy tờ xe sau khi kết thúc hợp đồng.
Ngân hàng không chứng minh được số tiền khách hàng còn nợ
Ngày 14/5/2026, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về khoản nợ hơn 117,6 triệu đồng, gồm gần 46,7 triệu đồng tiền gốc và hơn 70,9 triệu đồng tiền lãi.
Không đồng ý với phán quyết, ngân hàng kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xác định việc bà T ký hợp đồng và được giải ngân 100 triệu đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, vấn đề cần làm rõ không phải khoản vay có phát sinh hay không, mà là khách hàng có còn nghĩa vụ thanh toán tại thời điểm ngân hàng khởi kiện và số tiền thực tế còn nợ là bao nhiêu.
Theo Hội đồng xét xử, ông C là cộng tác viên được ngân hàng giao nhiệm vụ thu tiền gốc, lãi của khách hàng để nộp lại ngân hàng. Vì vậy, cần đối chiếu chứng từ thu tiền, chứng từ nộp tiền và lịch sử hạch toán khoản vay để xác định nghĩa vụ trả nợ của bà T.
Tuy nhiên, các tài liệu do ngân hàng cung cấp xuất hiện nhiều điểm không thống nhất. Cụ thể, ngân hàng cho rằng ông C thu tiền của bà T và nộp lại đến ngày 7/3/2020, trong khi lịch sử hoạt động tài khoản vay lại thể hiện khách hàng đã trả gốc và lãi đến ngày 7/4/2020.
Bên cạnh đó, số tiền ông C nộp vào các tài khoản ngân hàng không khớp với tổng số tiền thể hiện trong các bảng kê thu tiền.
Các biên bản làm việc giữa ngân hàng và ông C về việc chậm nộp tiền cũng không xác định rõ những khoản tiền chậm nộp thuộc về khách hàng nào, có bao gồm khoản tiền của bà T hay không.
Hội đồng xét xử nhận định chứng cứ ngân hàng cung cấp chưa phản ánh đầy đủ, thống nhất và có thể kiểm chứng toàn bộ quá trình khách hàng trả tiền cho cộng tác viên, cộng tác viên nộp tiền cho ngân hàng và ngân hàng hạch toán vào khoản vay.
Theo tòa, ngân hàng là bên yêu cầu khách hàng thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên phải cung cấp chứng cứ chứng minh số dư nợ thực tế. Do không đối chiếu, giải thích được những khoản tiền đã thu, đã nộp và đã hạch toán, ngân hàng chưa có đủ cơ sở chứng minh số tiền khách hàng còn nợ.
Một tình tiết khác là ngân hàng thừa nhận đã làm thất lạc bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô được sử dụng làm tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhấn mạnh việc ngân hàng làm mất giấy đăng ký xe không phải căn cứ độc lập để kết luận khoản vay đã được tất toán.
Dù vậy, khi ngân hàng chưa chứng minh được nghĩa vụ trả nợ còn tồn tại, tòa cũng không có cơ sở chấp nhận yêu cầu xử lý chiếc xe mô tô hoặc nhà, đất của bên thứ ba để thu hồi nợ.
Tại cấp phúc thẩm, ngân hàng không cung cấp được chứng cứ mới có giá trị chứng minh số dư nợ thực tế. Từ đó, Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ quyết định không chấp nhận kháng cáo của ngân hàng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Như vậy, ngân hàng không được chấp nhận yêu cầu thu hồi khoản nợ hơn 117 triệu đồng cũng như yêu cầu xử lý các tài sản bảo đảm.
Vụ án cho thấy một vấn đề đáng chú ý trong hoạt động cho vay thông qua cộng tác viên: Khi phát sinh tranh chấp, việc chứng minh nghĩa vụ trả nợ không chỉ dựa trên hợp đồng tín dụng và số dư nợ do ngân hàng xác định, mà còn phụ thuộc vào khả năng đối chiếu toàn bộ dòng tiền đã thu, đã nộp và hạch toán.
Thu Thủy
Nguyễn Đức Hải
Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/mot-ngan-hang-thua-kien-khi-doi-khach-hang-tra-hon-117-trieu-dong-205261103112831721.htm