Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan báo tin vui cùng lúc đến Việt Nam

Việt Nam vừa đón tin vui từ mỏ vàng tỷ USD.

Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan báo tin vui cùng lúc đến Việt Nam - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu 22.743 tấn hồ tiêu, đạt 147,3 triệu USD. So với tháng trước, lượng xuất khẩu giảm 1,6% và kim ngạch giảm 2,6%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, lượng hồ tiêu xuất khẩu vẫn tăng 8,8%.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, thu về 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo khu vực, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm, với 76.845 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ và chiếm 45,6% tổng lượng xuất khẩu.

Châu Mỹ đứng thứ hai với 45.470 tấn, tăng tới 34%, chiếm 27%. Trong khi đó, lượng hồ tiêu xuất khẩu sang châu Âu đạt 36.140 tấn, tăng 7,5%, tương đương 21,5% tổng lượng xuất khẩu. Xuất khẩu sang châu Phi cũng tăng 10%, lên 9.964 tấn.

Trong nhóm các thị trường đơn lẻ, Mỹ tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu với 40.712 tấn, tăng 31,8% so với cùng kỳ. Trung Quốc đạt 17.110 tấn, tăng mạnh 55,8%; Hà Lan đạt 6.136 tấn, tăng 48,8%, trong khi Thái Lan ghi nhận mức tăng tới 88,7%, lên 6.913 tấn.

Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan báo tin vui cùng lúc đến Việt Nam - Ảnh 2.

Theo VPSA, vụ thu hoạch hồ tiêu năm 2026 của Việt Nam ước đạt khoảng 170.000 tấn, giảm 12,8% so với năm trước. Nguồn cung hạn chế là một trong những yếu tố hỗ trợ giá hồ tiêu duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu trong những tháng cuối năm.

Trong ngắn hạn, VPSA dự báo giá hồ tiêu có thể tiếp tục ổn định nếu tình hình địa chính trị thế giới không xuất hiện những biến động lớn. Trong trường hợp căng thẳng tại Trung Đông được giải quyết, giá có khả năng tăng trở lại khi lượng tồn kho tại các thị trường nhập khẩu giảm, trong khi nguồn cung từ những quốc gia sản xuất lớn đang ở mức thấp trong nhiều năm.

Tuy nhiên, doanh nghiệp xuất khẩu vẫn phải đối mặt với áp lực từ chi phí logistics và những bất ổn địa chính trị. Đáng chú ý, thị trường Mỹ đang áp dụng mức thuế nhập khẩu 12,5% đối với hàng hóa Việt Nam. Chính sách này có thể làm tăng chi phí nhập khẩu, khiến các nhà nhập khẩu thận trọng hơn trong việc ký hợp đồng và đàm phán giá.

Về dài hạn, ngành hồ tiêu và gia vị Việt Nam đối mặt với giới hạn về khả năng mở rộng diện tích. Quỹ đất hạn chế, sự cạnh tranh với các loại cây trồng khác cùng những yêu cầu ngày càng khắt khe từ các thị trường nhập khẩu đang đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức sản xuất và xuất khẩu.

Đặc biệt, Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) khiến vấn đề truy xuất nguồn gốc và kiểm soát vùng nguyên liệu ngày càng trở nên quan trọng đối với doanh nghiệp.

Trong bối cảnh khó mở rộng sản lượng, dư địa tăng trưởng của ngành được kỳ vọng đến từ chất lượng, thương hiệu, chế biến sâu và gia tăng giá trị sản phẩm.

Theo đó, doanh nghiệp cần phát triển các vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng cường liên kết với nông dân, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật riêng của từng thị trường. Đây được xem là hướng đi quan trọng để ngành hồ tiêu duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn.

Như Quỳnh

Nguyễn Đức Hải

Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/my-trung-quoc-va-thai-lan-bao-tin-vui-cung-luc-den-viet-nam-205260813161326681.htm