Nền kinh tế bạc: ‘Mỏ vàng’ 4,8 tỷ USD khi Việt Nam già hóa dân số

Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số và dự kiến sẽ trở thành quốc gia có dân số già trong chưa đầy một thập kỷ tới. Cùng với sự thay đổi về cơ cấu dân số, một thị trường mới trị giá hàng tỷ USD cũng đang hình thành.

Nền kinh tế bạc (Silver Economy hay kinh tế tóc bạc) bao gồm toàn bộ các hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng phục vụ người cao tuổi. Việt Nam đang đối mặt với một câu hỏi cấp thiết: ai sẽ chăm sóc lực lượng người cao tuổi đang gia tăng nhanh chóng? Phó giáo sư Catherine Earl (Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam) cho rằng câu trả lời nằm ở việc phát triển một nền kinh tế chăm sóc toàn diện, vượt khỏi phạm vi bệnh viện và viện dưỡng lão, nhằm tạo thêm việc làm, hỗ trợ các gia đình, đồng thời mở ra cơ hội đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.

Nền kinh tế bạc: ‘Mỏ vàng’ 4,8 tỷ USD khi Việt Nam già hóa dân số - Ảnh 1.

Nền kinh tế bạc của Việt Nam được dự báo sẽ gần như tăng gấp đôi giá trị, từ 2,6 tỷ USD năm 2023 lên 4,8 tỷ USD vào năm 2034. Ảnh: Magnific.

Cơ hội kinh tế mới

Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, giá trị của việc chăm không lương ước tính vào khoảng 3,8 nghìn tỉ đô la Mỹ. Trong khi đó, nền kinh tế bạc của Việt Nam, tập trung vào các giải pháp chăm sóc tại nhà, được dự báo sẽ gần như tăng gấp đôi giá trị, từ 2,6 tỷ USD năm 2023 lên 4,8 tỷ USD vào năm 2034.

"Sự phát triển của 'nền kinh tế bạc' là một trong những chuyển dịch quan trọng mà Việt Nam đang trải qua trong những thập niên đầu của thế kỷ 21, cùng với quá trình đô thị hóa nhanh chóng, quy mô gia đình ngày càng thu hẹp và dân số già hóa nhanh".

Nền kinh tế bạc: ‘Mỏ vàng’ 4,8 tỷ USD khi Việt Nam già hóa dân số - Ảnh 2.

Phó giáo sư Catherine Earl (Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam). Ảnh: RMIT.

Theo Phó giáo sư Earl, mô hình kinh tế chăm sóc không nên chỉ tập trung vào việc cung cấp phúc lợi xã hội mà cần hướng tới xây dựng một nền kinh tế chăm sóc bền vững và toàn diện. Nhiều trụ cột của nền kinh tế chăm sóc cần được tích hợp và hỗ trợ để tôn trọng và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn.

Bà cũng chỉ ra Lộ trình phát triển kinh tế chăm sóc mà Indonesia vừa công bố như một ví dụ mà Việt Nam có thể tham khảo. Chiến lược này kết hợp chăm sóc trẻ em, chăm sóc dài hạn, bình đẳng giới và phát triển nguồn nhân lực. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), lộ trình này có thể tạo ra khoảng 10,4 triệu việc làm vào năm 2035.

Phó giáo sư Earl nhấn mạnh rằng nhiều khía cạnh quan trọng của công tác chăm sóc vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức.

"Những lĩnh vực của nền kinh tế chăm sóc vẫn còn vô hình bao gồm chăm sóc sức khỏe tinh thần và phúc lợi của người cao tuổi, sa sút trí tuệ khởi phát sớm tại nơi làm việc, dịch vụ chăm sóc cuối đời chất lượng cao, học tập suốt đời, tập luyện thể chất, dinh dưỡng, các nhóm bạn bè, chương trình hỗ trợ xã hội và các mô hình chăm sóc liên thế hệ dành cho cả người cao tuổi lẫn trẻ em"

Xây dựng lực lượng lao động chăm sóc cho tương lai

Việc phát triển một nền kinh tế chăm sóc bền vững cũng đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ của lực lượng lao động.

Phó giáo sư Earl đề xuất ba ưu tiên chính sách bổ trợ lẫn nhau: đào tạo linh hoạt tại nơi làm việc, phát triển các chương trình đào tạo chính quy và thu hút lao động nhập cư tay nghề cao.

"Ba giải pháp chính sách có mối liên kết chặt chẽ sẽ giúp đáp ứng nhu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực. Trước hết, đào tạo tại nơi làm việc là yếu tố then chốt".

Bà cho rằng các chứng chỉ vi mô, những mô-đun đào tạo ngắn, tập trung vào kỹ năng và được đánh giá ngay tại nơi làm việc, có thể nhanh chóng nâng cao năng lực của người làm công tác chăm sóc, đồng thời mang lại các chứng nhận được công nhận chính thức.

"Các chứng chỉ vi mô rất hữu ích vì giúp phát triển kỹ năng cập nhật theo cách linh hoạt".

Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với khu vực nông thôn Việt Nam, nơi khoảng 70% người cao tuổi đang sinh sống và các dịch vụ hỗ trợ chính thức vẫn còn hạn chế. Nhiều phụ nữ hiện đảm nhận phần lớn việc gia đình nhưng chưa có bằng cấp chính thức. Do đó, các chứng chỉ vi mô có thể giúp ghi nhận và nâng cao những kỹ năng sẵn có này.

Phó giáo sư Earl cũng cho rằng các trường đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần mở rộng các chương trình đào tạo liên quan đến nền kinh tế chăm sóc.

"Khi Việt Nam phát triển năng lực trong giáo dục xuyên quốc gia, đào tạo về nền kinh tế chăm sóc có thể trở thành một yếu tố giúp thu hút sinh viên quốc tế".

Bà cũng đề xuất xây dựng các chương trình đào tạo lại dành cho lao động ở giai đoạn giữa sự nghiệp và phụ nữ quay lại thị trường lao động, qua đó vừa giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực trong tương lai vừa mở ra những hướng nghề nghiệp hấp dẫn.

Trong ngắn hạn, bà cho rằng Việt Nam cũng nên cân nhắc thu hút có chọn lọc lao động kỹ năng cao, đặc biệt là các chuyên gia lão khoa giàu kinh nghiệm và những chuyên gia trong các lĩnh vực mà trong nước hiện vẫn đang xây dựng năng lực.

Thế Trần

Đàm Thị Thuý Vân

Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/nen-kinh-te-bac-mo-vang-48-ty-usd-khi-viet-nam-gia-hoa-dan-so-20526080309313917.htm