Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong các chức năng chính và là hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền như Việt Nam hiện nay thì công tác lập pháp này càng trở nên cấp thiết và cần được quan tâm hàng đầu.
Xét trên thực tiễn hiện nay, hoạt động lập pháp hiện nay vẫn có những khoảng cách nhất định so với yêu cầu thực tiễn. Đến nay, đang có khoảng 90% các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là do Chính phủ soạn thảo, điều này phản ánh tính cấp thiết, nhu cầu làm luật xuất phát từ thực tiễn hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan thực thi pháp luật. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi cấp thiết "Tại sao Quốc hội không nâng cao thực chất, chất lượng lập pháp có sự tham gia chính thức, thực chất của những chuyên gia pháp lý hành nghề luật sư - những người hằng ngày đối mặt với pháp luật từ phía người dân và doanh nghiệp"?
Toàn dân hưởng ứng tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Nguồn: Internet.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, đã xác định rõ chủ trương "nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội", trong đó nhấn mạnh việc "tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật". Đây là tư tưởng chỉ đạo có tính nhất quán, đặt nền móng lý luận cho yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đại biểu, đặc biệt là thành phần có chuyên môn pháp lý chuyên sâu trong thực tiễn. Tiếp nối và nâng cao định hướng đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII đã đặt ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng lãnh đạo, có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân. Đến năm 2025, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, trong khuôn khổ bài viết này, tôi tập trung luận giải sự cần thiết phải có ĐBQH là luật sư, đồng thời làm rõ những đóng góp thiết thực mà thành phần này có thể mang lại cho hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
ĐBQH là người được nhân dân tín nhiệm bầu, hoạt động của Đại biểu tại các Kỳ họp Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân nhằm đảm bảo thực hiện quyền làm chủ và bảo đảm các quyền của nhân dân. Theo đó, điều kiện tiên quyết và cơ bản nhất đối với bất kỳ ĐBQH nào cũng chính là sự am hiểu pháp luật, trước khi xét đến bất kỳ tiêu chí nào khác về lĩnh vực chuyên môn hay thành phần đại diện. Đây không phải là yêu cầu mang tính hình thức, mà là điều kiện nền tảng xuất phát từ bản chất và chức năng của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp - nơi mà mỗi quyết định, mỗi phiếu biểu quyết đều có thể định hình khuôn khổ pháp lý cho toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của quốc gia. Một đại biểu thiếu tri thức pháp luật căn bản sẽ khó có thể thẩm định đúng đắn chất lượng của một dự án luật, nhận diện những bất cập tiềm ẩn trong từng điều khoản, hay đưa ra kiến nghị xác đáng trong quá trình thảo luận và biểu quyết thông qua luật. Điều đó đồng nghĩa với việc mỗi ĐBQH, dù đại diện cho lĩnh vực nào, thành phần nào, cũng phải sở hữu nền tảng am hiểu pháp luật như một điều kiện không thể thiếu để thực thi đúng đắn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.
Vì vậy, khi một luật sư trở thành ĐBQH, điều kiện tiên quyết - am hiểu pháp luật - đã được đáp ứng một cách tự nhiên, các giá trị thực chất được vận dụng ngay vào thực tiễn nghị trường để nâng cao chất lượng xây dựng luật, tăng cường tính giám sát tối cao, bảo vệ quyền lợi ích của nhân dân và tham gia vào cải cách tư pháp. Hơn thế nữa, kỹ năng nghiên cứu khoa học pháp lý của luật sư không chỉ dừng lại ở kiến thức pháp lý hàn lâm, mà còn được hun đúc và kiểm chứng qua thực tiễn hành nghề thường xuyên, liên tục trong các lĩnh vực đa dạng của đời sống pháp lý.
Ảnh minh họa.
Tại Việt Nam, mặc dù pháp luật đã có quy định về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có sự tham gia của Liên đoàn Luật sư Việt Nam với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng thực tế hoạt động này đến nay vẫn còn khá hạn chế. Hiện nay ở Việt Nam, luật sư không phải là công chức, viên chức, không chịu sự chi phối, tác động bởi các bộ ngành nhất định nên có thể bảo đảm tính khách quan về quan điểm cũng như tính toàn diện hơn trong quá trình soạn thảo, xây dựng, phản biện các văn bản pháp luật, tránh được "tư duy bộ ngành". Ý kiến đóng góp của luật sư - ĐBQH trong công tác xây dựng pháp luật không chỉ mang yếu tố lập pháp thuần túy mà còn là yếu tố phản chiếu thực tiễn áp dụng pháp luật vào ngay trong quá trình lập pháp. Khi ĐBQH mang trong mình chuyên môn của luật sư, điều đó không chỉ là lợi thế cho bản thân người đại biểu, mà là lợi thế cho toàn bộ quá trình xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định công tác xây dựng pháp luật là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện thể chế, đồng thời chuyển tư duy lập pháp theo hướng "pháp luật không chỉ là phương tiện quản lý mà phải mang tính dẫn dắt để phục vụ sáng tạo và phát triển", dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Nghị quyết đặt người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, hướng đến huy động mọi nguồn lực và tạo môi trường pháp lý minh bạch, công bằng để người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội. Trong tinh thần đó, luật sư hành nghề - với tư cách là người đại diện cho lợi ích dân sự, am hiểu pháp luật và có kỹ năng phản biện chuyên nghiệp - nếu đồng thời là ĐBQH, sẽ không chỉ đưa tiếng nói của xã hội vào nghị trường mà còn bảo đảm tiếng nói đó được diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý chính xác, có căn cứ và có trọng lượng thuyết phục cao trong quá trình thảo luận và biểu quyết thông qua luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã đặt ra mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật "dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi", đồng thời khẳng định nhiệm vụ "tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế". Với những phẩm chất và năng lực được Đảng xác định như vậy, theo quan điểm của tôi, đội ngũ luật sư hoàn toàn đủ điều kiện và cần được tạo cơ chế phù hợp để tham gia tích cực hơn vào hoạt động lập pháp, góp phần bảo đảm chất lượng và tính khả thi của pháp luật.
Giám sát tối cao là 1 trong 3 chức năng hiến định của Quốc hội, bên cạnh lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, chức năng giám sát chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đại biểu không chỉ biết "nói" mà còn biết "hỏi đúng" - tức là có đủ năng lực chuyên môn để nhận diện những vi phạm pháp luật tiềm ẩn trong hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp, nhận ra những hành vi lạm quyền ẩn sau những văn bản có vẻ hợp thức, và đặt những câu hỏi chất vấn có chiều sâu pháp lý buộc phải được trả lời đến tận cùng.
Theo quan điểm của tôi, khi chuyên môn hành nghề luật sư được vận dụng vào chức năng giám sát của Quốc hội, đại biểu có thể phân tích các báo cáo công tác của cơ quan hành pháp và tư pháp từ góc độ tuân thủ pháp luật, nhận diện những sai phạm có hệ thống trong áp dụng pháp luật, và kiến nghị chấn chỉnh kịp thời.
Cải cách tư pháp và phòng chống tham nhũng là 2 trụ cột không thể tách rời trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra mục tiêu "đẩy mạnh cải cách tư pháp, hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân". Đây là những mục tiêu đòi hỏi không chỉ quyết tâm chính trị, mà còn cần có những đại biểu trong Quốc hội thực sự hiểu cấu trúc và vận hành của hệ thống tư pháp từ bên trong - hiểu từ những phiên xét xử, từ những cuộc tranh tụng, từ những lần bào chữa trong hành lang của sự thật pháp lý.
Theo tôi, từ vai trò giám sát của Quốc hội có thể phát sinh trực tiếp yêu cầu và cơ sở để thực hiện cải cách tư pháp một cách thực chất. Đại biểu là luật sư, với kinh nghiệm tranh tụng, biết rõ những "điểm nghẽn" của hệ thống tư pháp: Từ sự không nhất quán trong áp dụng pháp luật giữa các cấp tòa đến những rào cản tiếp cận công lý của người dân; từ những bất cập trong tố tụng hình sự dẫn đến nguy cơ oan sai đến những lỗ hổng trong cơ chế kiểm soát quyền lực của cơ quan điều tra và truy tố.
Trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, đóng góp của đại biểu là luật sư mang thêm một hướng tiếp cận đặc thù và không thể thay thế. Thông qua hoạt động chất vấn trong kỳ họp Quốc hội, đại biểu là luật sư có thể đặt câu hỏi sắc sảo, có căn cứ pháp lý cụ thể về những vụ việc tham nhũng và những biểu hiện vi phạm nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý Nhà nước - tạo sức ép giải trình thực chất đối với cơ quan hành pháp và tư pháp trước cử tri và toàn thể xã hội.
Nhìn vào thực trạng cơ cấu ĐBQH hiện nay, có thể thấy một số vấn đề cần được thẳng thắn nhìn nhận và thảo luận. Theo Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa XVI, tổng số đại biểu dự kiến là 500 người, trong đó tỷ lệ đại biểu là người ngoài Đảng đạt ít nhất 25 đại biểu (5%) và đại biểu chuyên trách ít nhất 40%. Mặc dù Nghị quyết này đã thể hiện sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng và tính đại diện của đội ngũ đại biểu, nhưng chưa có quy định cụ thể về cơ cấu dành riêng cho thành phần có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn - đặc biệt là luật sư. Đây là một khoảng trống cần được nghiên cứu, xem xét trong các nhiệm kỳ tiếp theo.
Ảnh minh họa.
Để phát huy hiệu quả vai trò của luật sư trong cơ quan lập pháp cao nhất, phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong kỷ nguyên mới, tôi đề xuất cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách về cơ cấu ĐBQH có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn.
Trong quá trình xây dựng Nghị quyết về số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH cho các nhiệm kỳ tiếp theo, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần nghiên cứu bổ sung cơ cấu định hướng dành riêng cho đại biểu có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn, bao gồm luật sư.
Thứ hai, sửa đổi Luật Luật sư và Luật Tổ chức Quốc hội để tạo cơ sở pháp lý đồng bộ.
Nhiều ĐBQH đang thúc đẩy việc sửa đổi căn bản Luật Luật sư, trong đó có yêu cầu thể chế hóa kịp thời Nghị quyết số 27-NQ/TW về tăng cường xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Trong lần sửa đổi này, cần xem xét bổ sung quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và cơ chế quản lý xung đột lợi ích đối với luật sư đang đảm nhiệm vị trí ĐBQH, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong cả hai vai trò. Đồng thời, Luật Tổ chức Quốc hội cũng cần xem xét bổ sung các quy định tạo điều kiện để luật sư duy trì chứng chỉ hành nghề trong thời gian đảm nhận nhiệm vụ đại biểu, tránh tình trạng luật sư phải từ bỏ hoàn toàn chuyên môn - vốn là nền tảng cho những đóng góp thiết thực nhất của họ tại nghị trường.
Thứ ba, thiết lập cơ chế huy động luật sư vào hoạt động tư vấn chuyên môn cho Quốc hội.
Cần tăng cường vai trò của Viện Nghiên cứu lập pháp và thiết lập cơ chế huy động luật sư có kinh nghiệm tham gia tư vấn chuyên sâu trong quá trình thẩm tra các dự án luật quan trọng, đặc biệt ở các lĩnh vực tư pháp, hình sự và dân sự. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để sớm hình thành đội ngũ luật sư công (public lawyers) làm việc trong hệ thống các cơ quan lập pháp với chức năng chính là tư vấn, rà soát, tham mưu và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật - giải pháp đã được đề xuất trong nhiều nghiên cứu chuyên sâu về lập pháp.
Thứ tư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các đoàn luật sư chủ động giới thiệu, bồi dưỡng và hỗ trợ luật sư tiêu biểu tham gia ứng cử ĐBQH.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam, với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có đầy đủ cơ sở pháp lý và vị thế tổ chức để chủ động đề xuất và giới thiệu những luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, có chuyên môn sâu tham gia ứng cử ĐBQH trong các kỳ bầu cử.
Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp về quản lý xung đột lợi ích đối với luật sư kiêm nhiệm chức vụ ĐBQH.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần nghiên cứu ban hành hoặc bổ sung vào Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam những quy định cụ thể về những trường hợp luật sư - ĐBQH phải từ chối tham gia biểu quyết hoặc phải công khai khai báo lợi ích khi thảo luận các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hành nghề hoặc khách hàng của mình. Điều này không chỉ bảo vệ uy tín cá nhân của đại biểu mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Quốc hội minh bạch, liêm chính - yêu cầu không thể thiếu trong Nhà nước pháp quyền XHCN mà Đảng và Nhà nước đang nỗ lực xây dựng.
Thứ sáu, tăng cường bồi dưỡng kiến thức về hoạt động nghị trường cho luật sư.
Đi đôi với việc ĐBQH cần am hiểu pháp luật, luật sư muốn phát huy hiệu quả vai trò đại biểu cũng cần được trang bị kiến thức về quy trình nghị viện, kỹ năng thảo luận và tranh luận tại Quốc hội, và phương pháp tiếp cận các vấn đề kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô.
Như vậy, sự cần thiết của ĐBQH là luật sư trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không phải là một mệnh đề lý luận trừu tượng, mà là yêu cầu thực tiễn xuất phát từ chính bản chất và chức năng của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan thực hiện quyền lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Điều kiện tiên quyết của bất kỳ ĐBQH nào là sự am hiểu pháp luật - và luật sư hành nghề đã sở hữu lợi thế đó ngay từ đầu, như một điều kiện vốn có không cần phải xây dựng thêm.
Qua 3 vai trò cốt lõi trong lập pháp, giám sát, và cải cách tư pháp - phòng chống tham nhũng, ĐBQH là luật sư mang đến cho nghị trường không chỉ kiến thức pháp lý, mà còn là kinh nghiệm thực tiễn sống động từ phía người dân và doanh nghiệp - những chủ thể mà pháp luật được tạo ra để phục vụ và bảo vệ.
TS.LS. Nguyễn Thị Huyền Trang
Phạm Thị Tâm