Trình Quốc hội cơ chế đặc thù xử lý vi phạm liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân

Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng; đồng thời tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung

Sáng 3/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, việc ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng; đồng thời tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Đảng, Nhà nước; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp.

Trình Quốc hội cơ chế đặc thù xử lý vi phạm liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân- Ảnh 1.

Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an.

Trong quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết, cơ quan soạn thảo đã gửi xin ý kiến của UBND các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành có liên quan và các cơ quan của Đảng. Trên cơ sở ý kiến tham gia, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ dự án Nghị quyết và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.

Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều với các nội dung cụ thể:

Quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ. Theo đó, Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật nêu trên.

Nghị quyết này quy định các nguyên tắc thực hiện, trong đó có các nguyên tắc quan trọng cốt lõi gồm: Khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; khoan hồng, giảm nhẹ đối với các hành vi vi phạm nhưng vì lợi ích chung, lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp; ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết đã giải thích 9 thuật ngữ để thống nhất cách hiểu, gồm: Không tham nhũng; vì lợi ích chung; hậu quả thiệt hại; khắc phục hậu quả thiệt hại; mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước; vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân; và vi phạm pháp luật trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Ngoài ra, Nghị quyết quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Theo đó, Chính phủ đề xuất 4 điều để quy định về chính sách xử lý hình sự gồm: không truy cứu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự; miễn trách nhiệm hình sự.

Dự thảo Nghị quyết cũng quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết này dự kiến được thực hiện trong 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành.

Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn tạm hoãn (không quá 2 năm).

Bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ

Thẩm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề cấp thiết khi một số luật chưa được sửa đổi, bổ sung; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vụ việc, vụ án; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng.

Trình Quốc hội cơ chế đặc thù xử lý vi phạm liên quan đến kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân- Ảnh 2.

Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi (Ảnh: Media Quốc hội).

Qua đó, nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục bám sát, thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng; lượng hóa tiêu chí phân loại vi phạm, điều kiện áp dụng chính sách khoan hồng; thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ, ngăn ngừa việc lợi dụng, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.

Về điều khoản thi hành và tổ chức thực hiện, Ủy ban cơ bản tán thành thời hạn thực hiện Nghị quyết là 3 năm, tạo khoảng thời gian thí điểm để tổ chức thực hiện, kiểm nghiệm và đánh giá chính sách.

Tuy nhiên, cần xác định rõ ngày có hiệu lực của Nghị quyết, các quy định chuyển tiếp để tránh chồng chéo hoặc khoảng trống pháp lý và mối quan hệ với Bộ luật Hình sự sửa đổi.

Trường hợp các chính sách đã được luật hóa đầy đủ thì cần xử lý hiệu lực của Nghị quyết cho phù hợp. Đồng thời, đề nghị làm rõ phạm vi áp dụng đối với các vi phạm có yếu tố đất đai; bảo đảm không có khoảng trống giữa Nghị quyết này và Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội.

Hoàng Bích - Hữu Thắng

Phạm Thị Tâm

Link nội dung: https://antt.nguoiduatin.vn/trinh-quoc-hoi-co-che-dac-thu-xu-ly-vi-pham-lien-quan-den-kinh-te-nha-nuoc-kinh-te-tu-nhan-205260803134609033.htm