Sau gần một thập kỷ liên tiếp xuất siêu, lần đầu tiên Việt Nam nhập siêu gần 14 tỷ USD trong 5 tháng 2026, nguyên nhân do đâu?
5 tháng đầu năm 2026, nhập siêu của Việt Nam đã lên tới 13,81 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm ngoái xuất siêu 5,1 tỷ USD. Đây là một con số đáng lưu ý vì sau 10 năm xuất siêu liên tiếp (từ 2016-2025), cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam đảo chiều sang nhập siêu 13,8 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2026 (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu).
Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 5, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 99,07 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 445,12 tỷ USD, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,5%; nhập khẩu tăng 30,8% .
Về xuất khẩu, báo cáo cho biết, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5 đạt 46,93 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,05 tỷ USD, giảm 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,88 tỷ USD, tăng 3,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5 tăng 18,0%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 22,0%.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 215,66 tỷ USD, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 43,5 tỷ USD, tăng 2,5%, chiếm 20,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 172,16 tỷ USD, tăng 24,7%, chiếm 79,8%.
Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 5 đạt 52,14 tỷ USD, tăng 4,3% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 13,17 tỷ USD, giảm 10,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,97 tỷ USD, tăng 10,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 5 tăng 33,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 38,2%.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 229,46 tỷ USD, tăng 30,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 64,26 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 165,2 tỷ USD, tăng 34,3%.
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng 5 nhập siêu 5,21 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 13,80 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,1 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,76 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,96 tỷ USD.
Đây là một con số đáng lưu ý vì sau 10 năm xuất siêu liên tiếp (từ 2016-2025), cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam đảo chiều sang nhập siêu 13,8 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm 2026 (nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu).
Báo cáo của TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện nghiên cứu kinh tế BIDV phân tích, nguyên nhân nhập siêu của Việt Nam tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm 2026 đến từ 3 lý do chính.
Thứ nhất, doanh nghiệp tăng nhập hàng để tích trữ nguyên nhiên liệu đầu vào trong bối cảnh rủi ro gia tăng. Thứ hai, nhiều mặt hàng nhập khẩu bị tăng giá, đặc biệt là giá năng lượng, phân bón, linh kiện điện tử - điện máy, trang thiết bị sản xuất…..
Thứ ba, theo nhóm nghiên cứu, cấu trúc nền kinh tế khi xuất khẩu vẫn chủ yếu dựa vào khối doanh nghiệp FDI. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu của khối FDI chiếm đến 80% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, 72% kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong 5 tháng 2026.
Bên cạnh đó, khu vực FDI luôn có tăng trưởng xuất nhập khẩu cao hơn khu vực DN trong nước và luôn xuất siêu, trong khi doanh nghiệp trong nước luôn nhập siêu (trong 5T.2026, khối DN FDI xuất siêu gần 7 tỷ USD (kể cả dầu thô) trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu 20,8 tỷ USD.
"Việc này đặt ra yêu cầu cấp thiết khối doanh nghiệp trong nước cần quyết tâm nâng cao năng lực, tận dụng tốt hơn các FTA và tăng sức chống chịu, tăng tỷ lệ nội địa hóa …v.v", TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Dự báo hiện tượng nhập siêu này sẽ giảm đi khi hai nguyên nhân đầu dịu bớt. Nghĩa là, việc doanh nghiệp tăng nhập khẩu hàng sẽ bớt đi khi chiến sự tại Iran giảm bớt căng thẳng, eo biển Hormuz dần được giải tỏa; và theo đó giá hàng nhập khẩu cũng bớt tăng. Với nguyên nhân thứ ba (cấu trúc của nền kinh tế và năng lực nội tại của doanh nghiệp trong nước) thì cần thời gian và giải pháp tổng thể như kiến nghị dưới đây.
Nhập siêu tác động thế nào đến cán cân ngoại tệ và tỷ giá?
Về tác động của việc nhập siêu tăng, việc này cũng có tác động nhất định đối với cán cân ngoại tệ và tỷ giá, nhưng không nhiều. Trong 5 tháng đầu năm, tỷ giá liên ngân hàng chỉ tăng 0,06% so đầu năm (thấp hơn nhiều mức tăng 2,1% cùng kỳ 2025) do: (i) cân đối ngoại tệ được hỗ trợ bởi chênh lệch lãi suất VND-USD ở mức khá cao, khiến dòng vốn ngoại tệ chảy ra ngoài ít hơn; (ii) giá vàng giảm, góp phần giảm tình trạng buôn lậu vàng; (iii) dòng vốn FDI giải ngân, kiều hối và du lịch quốc tế tăng tích cực, qua đó giúp tỷ giá USD/VND vận động trong biên độ kiểm soát, dù nhập siêu hàng hóa và dịch vụ ở mức cao và dự trữ ngoại hối cải thiện không nhiều.
Dự báo đến hết năm 2026, tỷ giá USD/VND có thể chỉ tăng 1-2% nhờ các điều kiện thuận lợi như trên tiếp tục duy trì, thậm chí tốt hơn (khi nhập siêu giảm như đã phân tích ở trên, dự báo nhập siêu sẽ giảm mạnh, thậm chí cả năm 2026 có thể xuất siêu hàng hóa khoảng 2-4 tỷ USD) và dòng vốn đầu tư gián tiếp có thể cải thiện hơn khi TTCK Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 9/2026.
Khuyến nghị với Việt Nam
Về giải pháp lâu dài đối với việc giảm nhập siêu, duy trì xuất siêu; ở góc độ vĩ mô, TS. Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu khuyến nghị, Việt Nam cần giữ vững mặt trận xuất khẩu, giảm bớt nhập siêu dịch vụ (khoảng 10,2 tỷ USD năm 2025 và gần 3 tỷ USD trong 5 tháng năm 2026, nhất là 2 lĩnh vực logistics và du lịch).
Bên cạnh đó, Chính phủ sớm ban hành Chiến lược hoặc đề án đảm bảo an ninh năng lượng theo tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW; cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; hoàn thiện khung pháp lý kinh doanh xăng dầu; phát triển hệ thống dự trữ năng lượng, nâng năng lực dự trữ lên 2-3 tháng và tiến tới 3-4 tháng theo chuẩn khu vực (qua đó, giảm dần nhu cầu nhập khẩu năng lượng, nhất là thời điểm cấp bách, khó khăn).
Đồng thời, sớm ban hành chính sách thu hút FDI trong bối cảnh mới, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao, lan tỏa, tăng trách nhiệm kết nối với DN trong nước và chuyên giao công nghệ, quản trị…
Không chỉ vậy, Việt Nam xây dựng Đề án nâng cao năng lực tự chủ, tỷ lệ nội địa hóa và sức chống chịu của nền kinh tế và doanh nghiệp.
Cuối cùng, Việt Nam cần quyết liệt cải cách thủ tục hành chính, môi trường đầu tư - kinh doanh như Chính phủ đang nỗ lực thực hiện, góp phần khơi thông nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh, nhất là khu vực trong nước, lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ.
Cuối cùng, ở góc độ vi mô, bản thân doanh nghiệp, hộ kinh doanh cũng cần chủ động, quyết tâm tăng năng lực cạnh tranh, kết nối và tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị, tận dụng tốt hơn các FTA đã có; đẩy nhanh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiết kiệm và chuyển đổi năng lượng; thượng tôn pháp luật, minh bạch và chuyên nghiệp hơn nữa…v.v.
Hoàng Nguyễn (ghi theo báo cáo của nhóm tác giả)