Sửa Luật Dầu khí: Đảm bảo luật có sức sống và khả năng cạnh tranh
Góp ý sửa đổi Luật Dầu khí, ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc đánh giá đây là luật đặc thù, chuyên môn sâu, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, cần lấp các khoảng trống pháp lý và xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Chiều 8/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).
Xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn
Tham gia góp ý kiến, ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (đoàn Tp.Đà Nẵng) cho rằng dự án Luật Dầu khí (sửa đổi) được xây dựng và trình Quốc hội thông qua sẽ góp phần vào thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Trong đó, có một yêu cầu rất cụ thể là hoàn thiện thể chế pháp luật trong các lĩnh vực liên quan, trong đó có lĩnh vực dầu khí.
Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đánh giá rất cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã nghiêm túc trong việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm tra cũng như các ý kiến thảo luận tổ của đại biểu Quốc hội. Đồng thời, đại biểu bày tỏ đồng tình với rất nhiều những nội dung nêu trong báo cáo.
Nhấn mạnh Luật Dầu khí là luật rất đặc thù, chuyên môn sâu, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Kể cả pháp luật quốc tế, công pháp quốc tế, biên giới lãnh thổ, chủ quyền, cũng như các vấn đề liên quan đến tư pháp quốc tế, lựa chọn pháp luật, cơ quan giải quyết tranh chấp, thông lệ, tập quán quốc tế mà trong báo cáo giải trình đã đề cập.
ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (Ảnh: Media Quốc hội).
Đồng tình với Khoản 1 của Điều 4, song đại biểu cho rằng đây là một đạo luật chuyên ngành sâu, cần thiết phải có sự ưu tiên áp dụng trong những trường hợp có các quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác. Ông cho rằng nên bổ sung thêm Nghị quyết của Quốc hội.
"Nên có bổ sung thêm, cho phép được ưu tiên áp dụng Luật Dầu khí với tư cách là một luật chuyên ngành trong trường hợp có quy định khác với các luật và nghị quyết khác của Quốc hội", đại biểu nêu ý kiến.
Đối với khoản 3, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đồng tình với cách đặt vấn đề trong dự thảo luật. Theo đó, trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên tham gia hợp đồng dầu khí có thể áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc các thông lệ quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp dầu khí.
"Đây là điều rất quan trọng để lấp khoảng trống pháp lý và xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn", đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc nói, đồng thời cho rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc thông lệ quốc tế trong trường hợp này không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Theo đại biểu, những quy định này cũng tương tự các quy định đã được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự. Chẳng hạn, Điều 3 quy định về việc áp dụng tập quán trong quan hệ dân sự; Điều 666 quy định về áp dụng tập quán quốc tế; trong khi Điều 670 quy định trường hợp các bên lựa chọn pháp luật nước ngoài nhưng pháp luật đó không được áp dụng nếu trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
"Chính vì vậy, tôi cho rằng khoản 3 hoàn toàn phù hợp với khuôn khổ pháp luật của chúng ta, đồng thời tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các bên tham gia hợp đồng dầu khí", đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc nhấn mạnh.
Góp ý về cơ chế quyết định đầu tư và chấp nhận rủi ro: biên độ điều chỉnh kế hoạch đại cương phát triển mỏ, kế hoạch phát triển mỏ và trách nhiệm người ra quyết định, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Tp.Hải Phòng) cho rằng, dự thảo hiện xác định trường hợp phải điều chỉnh kế hoạch đại cương phát triển mỏ (ODP), kế hoạch phát triển mỏ (FDP) chủ yếu bằng việc liệt kê hạng mục công trình và ngưỡng tăng tổng mức đầu tư.
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (Ảnh: Media Quốc hội).
Đại biểu đề nghị chuyển mạnh hơn sang tiêu chí về mức độ trọng yếu: chỉ yêu cầu trình điều chỉnh khi thay đổi đáng kể mục tiêu phát triển mỏ, trữ lượng có thể thu hồi, hệ số thu hồi, an toàn, môi trường hoặc hiệu quả kinh tế; các điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi đã được phê duyệt giao Tập đoàn và nhà thầu chủ động quyết định, chịu trách nhiệm.
Đồng thời, đại biểu đề nghị thay cơ chế "có thể kết hợp phê duyệt" bằng quy định rõ: nếu đáp ứng đủ điều kiện luật định thì được kết hợp phê duyệt, để bảo đảm tính dự báo.
Theo đại biểu, vấn đề cốt lõi hơn là trách nhiệm của người ra quyết định. Hoạt động dầu khí có rủi ro địa chất cao, vì vậy trách nhiệm phải được xem xét trên cơ sở thông tin và mức độ rủi ro có thể nhận biết tại thời điểm quyết định, không chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng.
"Phải phân biệt quyết định sai do vi phạm pháp luật, thiếu trách nhiệm, vụ lợi với rủi ro khách quan vốn có của thăm dò, khai thác dầu khí. Có như vậy phân cấp mới thực chất, người được giao quyền mới chủ động quyết định và chịu trách nhiệm.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật, khơi thông nguồn lực phát triển, đồng thời vẫn tăng cường kiểm soát quyền lực", đại biểu Sơn nói.
Khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát
Cuối phiên thảo luận, giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu nêu, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng cho biết, tinh thần xuyên suốt và nổi bật của dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi) là tăng cường phân cấp, giao quyền, đơn giản hóa thủ tục nhằm khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát.
Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương của Đảng, thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế và được rút kinh nghiệm từ quá trình triển khai Luật Dầu khí năm 2022, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị.
"Cấp nào nắm rõ nhất về việc gì thì phải ra quyết định về việc đó", Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nói.
Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng (Ảnh: Media Quốc hội).
Phân tích thêm, ông cho biết, theo thiết kế của dự thảo, mô hình quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dầu khí sẽ được phân thành 3 cấp.
Thứ nhất, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quyết định những vấn đề vĩ mô, quan trọng như phân lô dầu khí, chính sách ưu đãi đầu tư và các vấn đề liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Thứ hai, các cơ quan quản lý Nhà nước, trong đó Bộ Công Thương là đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương thực hiện quản lý Nhà nước chuyên ngành; phê duyệt các nội dung thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước như: hợp đồng dầu khí, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quản lý tài nguyên, trữ lượng dầu khí và thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát.
Thứ ba, PVN với vai trò đại diện nước chủ nhà được giao một số quyền trong ký kết, quản lý, theo dõi, giám sát hoạt động dầu khí, đặc biệt là phê duyệt các nội dung có tính chất cụ thể, kỹ thuật thuộc thẩm quyền. Việc này nhằm tận dụng năng lực, bộ máy và kinh nghiệm của PVN - đơn vị đã hoạt động hơn 60 năm trong lĩnh vực dầu khí.
Đối với cơ chế kiểm tra, giám sát, Bộ trưởng cho biết dự thảo đã quy định tại khoản 10 Điều 58 việc Chính phủ quy định chi tiết tổ chức kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở dữ liệu do PVN và các nhà thầu dầu khí báo cáo, cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện giám sát dựa trên dữ liệu và kiểm toán theo định hướng rủi ro.