TS Phạm Xuân Hòe: Đừng kỳ vọng lãi suất giảm mạnh, giữ được như hiện nay đã là tích cực

Theo TS Phạm Xuân Hòe, dư địa hạ lãi suất hiện không còn nhiều. Áp lực thanh khoản, tỷ giá, vàng, USD và cả quy luật thị trường khiến việc đưa lãi suất xuống sâu là bài toán không dễ.

TS Phạm Xuân Hòe: Đừng kỳ vọng lãi suất giảm mạnh, giữ được như hiện nay đã là tích cực - Ảnh 1.

Ts. Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Nguồn: VTC NEWS)

Vì sao ngân hàng muốn hạ lãi suất nhưng khó có thể làm được?

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), lãi suất tiền gửi VND bình quân tháng 6/2026 tại nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần từ 4,0-4,6%/năm với kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng; 6,1-7,6%/năm với kỳ hạn từ 6-12 tháng; 5,9-7,3%/năm với kỳ hạn trên 12-24 tháng và 7,1-7,8%/năm với kỳ hạn trên 24 tháng.

Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu ở mức 8,1-10,5%/năm.

Lãi suất tăng không chỉ làm chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân gia tăng, mà còn tạo áp lực lên hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.

Chia sẻ trong talkshow “Vì sao ngân hàng muốn hạ lãi suất nhưng khó có thể làm được?”, của VTC News hôm 29/7, TS Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng cho biết, đối với các ngân hàng, mục tiêu trước tiên vẫn là đảm bảo thanh khoản và sự tồn tại. Đồng thời, họ còn phải đáp ứng các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Do đó sẽ tồn tại hai mặt bằng lãi suất: một là lãi suất niêm yết công khai, hai là lãi suất thực tế thông qua các hình thức khuyến mại, ưu đãi. Có thể ví như một tảng băng, phần nổi là lãi suất công bố, còn phần chìm là các ưu đãi đi kèm. Đây là quy luật khách quan của thị trường.

Một nguyên nhân khác ông Hòe chỉ ra là nhóm ngân hàng Big4 (BIDV, Vietinbank, Vietcombank và Agribank) trước đây có khoảng hơn 400.000 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc. Tuy nhiên, theo quy định mới của Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn này không còn được tính vào cân đối tín dụng, khiến các ngân hàng phải tìm nguồn vốn khác để bù đắp, qua đó làm gia tăng áp lực huy động và đảm bảo các chỉ tiêu an toàn tín dụng.

Chuyên gia cho biết hệ thống ngân hàng thương mại phải gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, chiếm hơn 60% tổng nguồn vốn cho tăng trưởng. Nếu không giải quyết được bài toán huy động vốn đầu vào thì rất khó giảm mạnh lãi suất đầu ra. Đó vẫn là quy luật của thị trường.

Nếu lãi suất giảm quá sâu, dòng tiền sẽ dịch chuyển sang các kênh khác như vàng hoặc ngoại tệ mạnh. Trong bối cảnh nhiều bất ổn, người có tiền luôn ưu tiên bảo toàn giá trị tài sản, thay vì gửi ngân hàng nếu lãi suất không đủ bù đắp lạm phát.

Vì vậy, các ngân hàng buộc phải duy trì mức lãi suất huy động đủ hấp dẫn. Chưa kể họ còn triển khai nhiều chương trình quay số trúng thưởng, khuyến mại và ưu đãi khác nhằm thu hút tiền gửi. Đây đều là phản ứng theo tín hiệu của thị trường.

Ông Hòe nhận định, không thể kỳ vọng lãi suất giảm ngay lập tức vì thị trường cần có lộ trình và những bước đi bài bản. Bài học quốc tế cho thấy ngay cả Mỹ cũng mất nhiều năm để đưa lãi suất về quanh mức 2%.

“Ở thời điểm hiện nay, tôi chưa kỳ vọng lãi suất sẽ giảm mạnh. Chỉ cần duy trì được mặt bằng lãi suất ổn định như hiện nay trong cả năm đã là một kết quả rất tích cực”, ông Hòe nhận định.

Muốn giảm lãi suất phải sử dụng các công cụ thị trường

TS Phạm Xuân Hòe: Đừng kỳ vọng lãi suất giảm mạnh, giữ được như hiện nay đã là tích cực - Ảnh 2.

Chuyên gia cho rằng dư địa để hạ lãi suất hiện nay rất hạn chế

Theo ông Hòe, muốn giảm lãi suất một cách bền vững thì phải sử dụng các công cụ thị trường. Trước hết cần cải tiến toàn bộ quy trình giải ngân vốn đầu tư công. Khi hồ sơ đã hoàn tất, các bên đã nghiệm thu và có đơn vị tư vấn giám sát xác nhận thì việc giải ngân phải được thực hiện trong thời gian ngắn nhất. Khi vốn đầu tư công được giải ngân, dòng tiền sẽ chảy vào doanh nghiệp, quay trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, qua đó giảm áp lực thanh khoản.

Nếu tiền vẫn nằm ở Kho bạc thì không được tính vào cân đối của ngân hàng. Nhưng khi được giải ngân và chuyển vào tài khoản doanh nghiệp tại ngân hàng, áp lực thanh khoản sẽ giảm đáng kể.

“Trước đây, khi còn làm ở ngân hàng thương mại, tôi thường nhắc cán bộ tín dụng rằng với các doanh nghiệp xây lắp thực hiện dự án đầu tư công, nên chủ động cơ cấu hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm khoảng hai tháng. Lý do là tiền thanh toán thường về rất chậm do doanh nghiệp phải hoàn tất nhiều thủ tục, trải qua nhiều khâu kiểm soát của Kho bạc trước khi tiền được chuyển vào tài khoản. Đây cũng là một mắt xích liên quan trực tiếp đến mặt bằng lãi suất và thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Vấn đề này hoàn toàn không đơn giản”, ông Hòe nhấn mạnh.

Ngoài đẩy có thể cân nhắc các công cụ chính sách tiền tệ như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở mức phù hợp, nhưng không đồng nghĩa với nới lỏng tiền tệ.

Trong bối cảnh lạm phát kỳ vọng còn cao, dư địa của chính sách tiền tệ không còn nhiều. Vì vậy cần phối hợp nhiều hơn với chính sách tài khóa.

Chẳng hạn, nếu muốn giảm lãi suất cho vay, Chính phủ có thể trình Quốc hội xem xét giảm một phần thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các ngân hàng, nhưng đi kèm điều kiện các ngân hàng phải giảm tương ứng biên lãi ròng (NIM) hoặc giảm lãi suất cho vay ở mức tương xứng, thậm chí lớn hơn phần ưu đãi mà Nhà nước dành cho họ. Đó mới là cách sử dụng các công cụ thị trường để thúc đẩy giảm lãi suất một cách thực chất.

Vị chuyên gia cho biết lãi suất tiền VNĐ không chỉ là câu chuyện riêng của hệ thống ngân hàng mà còn liên quan chặt chẽ đến tỷ giá, thị trường vàng, ngoại tệ và nhiều yếu tố khác của thị trường tài chính.

Theo quan điểm của ông, nếu muốn giữ ổn định hoặc tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất VND, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên cân nhắc lùi lộ trình chống đô la hóa, hay nói cách khác là xem xét cho phép người dân được hưởng một mức lãi suất nhất định đối với tiền gửi USD. Bởi hiện nay nhiều người dân, đặc biệt là nhóm có thu nhập cao, vẫn cất giữ ngoại tệ trong két sắt thay vì đưa vào hệ thống ngân hàng.

“Nếu chấp nhận lùi một bước trong lộ trình chống đô la hóa bằng cách cho phép áp dụng một mức lãi suất khuyến khích đối với tiền gửi USD, chúng ta có thể đạt được mục tiêu lớn hơn là huy động thêm nguồn lực trong dân, qua đó góp phần giảm chi phí vốn và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế”, ông nói.

Chính sách tiền tệ của Mỹ là một trong những yếu tố tác động lớn đến dư địa giảm lãi suất của Việt Nam. Khi Fed duy trì lãi suất ở mức cao, đồng USD mạnh và chỉ số DXY vẫn trên 100 điểm, áp lực điều hành tỷ giá đối với Ngân hàng Nhà nước sẽ gia tăng, khiến dư địa giảm lãi suất bị thu hẹp.

Nếu hạ lãi suất quá mạnh trong khi lạm phát, đặc biệt là lạm phát nhập khẩu, vẫn hiện hữu, dòng tiền có thể dịch chuyển từ VND sang vàng hoặc ngoại tệ, làm gia tăng áp lực huy động vốn của các ngân hàng. Vì vậy, việc điều hành lãi suất cần rất thận trọng để cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

“Vì vậy, tôi cho rằng dư địa để tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất hiện nay là tương đối hạn chế”, ông Hòe nhận định.

Phan Trang

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT