Vì sao lãi suất ngân hàng khó giảm sâu?
Lãi suất huy động duy trì trạng thái ổn định trong tuần đầu tháng 7, mở mức 6,6-6,9%/năm với kì hạn 12 tháng. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động và tỷ giá vẫn chịu áp lực, dư địa để lãi suất giảm thêm được đánh giá là không nhiều.

Bảng lãi suất tiền gửi theo kỳ hạn tại các ngân hàng (Nguồn: Techcombank)
Theo khảo sát hơn 30 ngân hàng, khoảng cách giữa mức lãi suất cao nhất và thấp nhất trên thị trường hiện đạt 4,3 điểm phần trăm đối với kỳ hạn 12 tháng. Dù vậy, phần lớn ngân hàng vẫn tập trung trong vùng 6,6-6,9%/năm, cho thấy mặt bằng lãi suất huy động đang duy trì trạng thái ổn định trong tuần đầu tháng 7.
Trong khi đó, tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm diễn ra sáng ngày 3/7, Thống đốc Phạm Đức Ấn một lần nữa yêu cầu toàn ngành tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đây là lần thứ tư trong chưa đầy 3 tháng kể từ khi nhậm chức, người đứng đầu NHNN trực tiếp đưa ra thông điệp yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục hạ lãi suất.
Câu hỏi đặt ra là vì sao cơ quan điều hành đang theo đuổi chính sách tiền tệ nới lỏng nhưng trên thị trường lãi suất vẫn chưa giảm sâu? Tại Talkshow “Lãi suất sẽ ra sao sau 1 /7?”, ông Nguyễn Minh Tuấn, CEO Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam (VWA), Tổng Giám đốc của AFA Capital, đã có phân tích chi tiết về vấn đề này.
Cần giải quyết bài toán thanh khoản
Theo ông Tuấn, nhiều người lo ngại nửa đầu năm 2026 Việt Nam đang quay trở lại chu kỳ tiền tệ thắt chặt. Tuy nhiên, ông Tuấn cho biết Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang rất nỗ lực trong việc tăng thanh khoản cho nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước không chỉ bơm thanh khoản mà còn định hướng dòng tín dụng vào những dự án có khả năng hoàn vốn nhanh và tạo hiệu quả lan tỏa cao.
Theo chuyên gia, cần phân biệt giữa lãi suất điều hành và lãi suất thị trường. Lãi suất điều hành chưa hề được nâng lên. Tuy nhiên, lãi suất thị trường lại chịu áp lực do mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn.
Trong năm 2025 và kéo dài sang năm nay, vị chuyên gia cho biết tín dụng tăng nhanh hơn nhiều so với huy động. Khoảng chênh lệch giữa hai dòng vốn đã lên tới hàng triệu tỷ đồng, khiến thanh khoản của hệ thống thiếu hụt.
“Đó mới là nguyên nhân cốt lõi. Chính sách tiền tệ vẫn theo hướng nới lỏng nhưng thanh khoản trên thị trường lại không đủ, vì vậy cơ quan điều hành đang tập trung xử lý đúng điểm nghẽn này”, ông Tuấn nhận định.

Theo ông, dòng tiền đã chảy vào tăng trưởng tín dụng của năm trước, một phần vào thị trường vàng và một số kênh đầu tư khác. Vì vậy, đầu năm 2026 nền kinh tế thực sự rơi vào tình trạng thiếu thanh khoản.
Điều này thể hiện khá rõ qua mặt bằng lãi suất huy động. Đến tháng 4, nhiều ngân hàng thương mại quy mô nhỏ vẫn niêm yết lãi suất ở mức cao. Đây mới là lãi suất niêm yết, còn lãi suất giao dịch thực tế có thể khác.
Trên thị trường liên ngân hàng, đầu năm từng có thời điểm lãi suất qua đêm tăng lên khoảng 17%, nhiều phiên dao động quanh 12% và tình trạng này kéo dài tới đầu tháng 6.
Vào thời điểm cuối tháng hoặc cuối quý, các ngân hàng vẫn phải bảo đảm các tỷ lệ an toàn thanh khoản nên lãi suất có thể tăng trở lại trong ngắn hạn. Nhưng nhìn chung, thị trường liên ngân hàng đã bớt căng thẳng hơn rất nhiều so với đầu năm.
Tuy nhiên, trong tháng 6, áp lực thanh khoản đã giảm đáng kể. Nếu quan sát cả thị trường dân cư và thị trường liên ngân hàng, có thể thấy dấu hiệu thanh khoản đang cải thiện.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì bơm ròng khoảng 230.000 tỷ đồng ra thị trường. Tuy nhiên, đây chủ yếu là các khoản hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn với kỳ hạn khoảng 1-2 tháng. Trong khi đó, lợi suất trái phiếu Chính phủ vẫn ở mức cao. Đây chính là điểm cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.
Vị chuyên gia cho rằng việc phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa sẽ góp phần giải quyết vấn đề thông qua việc điều tiết nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Theo số liệu được công bố, quy mô nguồn tiền này vào khoảng 563.000 tỷ đồng, tức gần 600.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, chính sách tài khóa cũng đang hỗ trợ chính sách tiền tệ, chẳng hạn tiếp tục duy trì giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu đến hết tháng 9. Nhìn tổng thể, ông Tuấn cho rằng định hướng điều hành vẫn rất rõ ràng: chính sách tài khóa tiếp tục mở rộng, chính sách tiền tệ tiếp tục nới lỏng và mục tiêu tiếp theo là hạ lãi suất thị trường thông qua sự phối hợp giữa hai chính sách này.
“Nếu Chính phủ vẫn duy trì nhu cầu huy động vốn lớn để phục vụ đầu tư công thì dòng tiền sẽ tiếp tục dịch chuyển sang trái phiếu Chính phủ và đòi hỏi mức lợi suất đủ hấp dẫn. Vì vậy, từ nay đến cuối năm, việc điều tiết dòng tiền trong nền kinh tế sẽ phụ thuộc rất lớn vào tiến độ giải ngân đầu tư công”, ông nhấn mạnh.
Không nên kì vọng lãi suất giảm sâu
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế rất cao trong năm nay, theo ông Tuấn, điều quan trọng nhất không hẳn là lãi suất giảm bao nhiêu, mà là mặt bằng lãi suất không tăng trở lại và dòng vốn thực sự được đưa vào sản xuất, kinh doanh cũng như các dự án tạo hiệu quả kinh tế.
“Thực tế đã có những giai đoạn lãi suất rất cao nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn. Vì vậy, bài toán lớn nhất hiện nay là xử lý thanh khoản của thị trường”, ông nói.
Đồng quan điểm, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng chính sách lãi suất hiện nay cần ưu tiên sự ổn định thay vì giảm sâu bằng mọi giá. Theo ông, lãi suất không chỉ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò cân bằng tỷ giá và kiểm soát lạm phát.
Ông phân tích, việc hạ lãi suất quá mạnh có thể thu hẹp chênh lệch giữa VND và USD, gia tăng sức ép lên tỷ giá và khuyến khích nắm giữ ngoại tệ. Ngược lại, nếu lãi suất huy động tăng quá cao, chi phí vốn của ngân hàng sẽ tăng, kéo theo lãi suất cho vay khó giảm, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và mục tiêu tăng trưởng.
Theo vị chuyên gia, giải pháp phù hợp là giữ ổn định lãi suất điều hành, đồng thời linh hoạt sử dụng các công cụ như nghiệp vụ thị trường mở (OMO), phát hành tín phiếu, hoán đổi ngoại tệ và tái cấp vốn để điều tiết thanh khoản. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần tiết giảm chi phí và biên lợi nhuận ở mức hợp lý nhằm tạo dư địa giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Điều này cũng phù hợp với định hướng điều hành linh hoạt mà Ngân hàng Nhà nước đang theo đuổi trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.
Phan Trang