Việt Nam đón tin vui cùng lúc từ Nga và Israel
‘Mỏ vàng’ của Việt Nam vừa đón loạt tín hiệu tích cực.

Ảnh minh họa
Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam bất ngờ tăng mạnh trong tháng 6/2026, giúp mức giảm của cả nửa đầu năm thu hẹp còn 2%.
Tuy nhiên theo VASEP nhịp phục hồi này chưa thật chắc khi trường Mỹ đang bị chi phối bởi tâm lý giao hàng sớm trước rủi ro thuế quan, EU vướng hệ thống kiểm soát nhập khẩu mới, trong khi một đối thủ đáng gờm là Indonesia chuẩn bị có thêm lợi thế thương mại tại châu Âu.
Cụ thể, xuất khẩu cá ngừ trong tháng 6/2026 đạt gần 88 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tháng tăng trưởng mạnh nhất từ đầu năm, sau giai đoạn xuất khẩu liên tục giảm liên tục từ tháng 2 đến tháng 5.
Nhờ cú bật này, kim ngạch 6 tháng đầu năm đạt 455 triệu USD, chỉ còn giảm 1,6% so với cùng kỳ 2025. Dù vậy, đà tăng chưa phổ biến. Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất với 176 triệu USD, chiếm 39% tổng kim ngạch, nhưng giảm 2%. EU đạt gần 88 triệu USD, giảm 18%. Ngược lại, một số thị trường đang giữ vai trò bù đắp khá rõ: Nga tăng 83%, Philippines tăng 31%, Ai Cập tăng 29%, Israel tăng 17%. Khối CPTPP tăng 6%, Trung Đông tăng 12%.
Trước đó, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam được dự báo tiếp tục chịu sức ép lớn từ biến động nguồn cung, giá nguyên liệu tăng cao và các rào cản thương mại ngày càng siết chặt trong năm 2026. Đối với toàn ngành thủy sản nói chung, sau 6 tháng đầu năm đã mang về 5,77 tỷ USD. Với con số này, mục tiêu duy trì tăng trưởng hai chữ số của xuất khẩu thủy sản năm 2026 là có cơ sở. Nếu giữ được nhịp độ hiện nay và tận dụng tốt nhu cầu tăng trong mùa tiêu dùng cuối năm, kim ngạch cả năm hoàn toàn có khả năng vượt 11 tỷ USD. Tuy nhiên, để tiến tới mốc 12 tỷ USD, xuất khẩu thủy sản cần duy trì bình quân trên 1 tỷ USD mỗi tháng trong nửa cuối năm, trong bối cảnh thị trường vẫn còn nhiều biến số.
Trung Quốc, CPTPP, ASEAN và Hàn Quốc được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, trong khi Mỹ và EU vẫn tiềm ẩn rủi ro từ thuế, phòng vệ thương mại, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và kiểm soát IUU. Khả năng tiến gần mốc 12 tỷ USD vì vậy sẽ phụ thuộc vào sự phục hồi của nhu cầu, diễn biến cước vận tải, nguồn nguyên liệu và khả năng tận dụng các FTA.
Bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp trong đa dạng hóa thị trường, kiểm soát chi phí và nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, ngành thủy sản cũng cần sự đồng hành của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương trong tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, logistics và tiếp cận thị trường. Đây sẽ là những điều kiện quan trọng để duy trì đà tăng trưởng và cải thiện giá trị xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Như Quỳnh