Việt Nam sở hữu một loại cá giàu protein hơn cá hồi, được mệnh danh ‘siêu thực phẩm': Vừa thu về hơn 500 triệu USD, người Mỹ cực kỳ ưa chuộng
Trong 7 tháng đầu năm mặt hàng này đã mang về hơn nửa tỷ USD.

Ảnh minh họa
Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), tháng 7/2026, xuất khẩu toàn ngành thủy sản đạt gần 1,02 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 7 tháng đầu năm, kim ngạch đạt gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5%. Mốc trên 1 tỷ USD trong tháng 7 tiếp tục củng cố triển vọng xuất khẩu thủy sản cả năm có thể vượt 12 tỷ USD. Tuy nhiên, số liệu tháng 7 cũng phát đi tín hiệu rõ ràng rằng giai đoạn tăng trưởng thuận lợi nhất có thể đã đi qua
Đối với mặt hàng cá ngừ, xuất khẩu trong tháng 7 đạt hơn 69 triệu USD, giảm nhẹ 0,1%. ũy kế 7 tháng đạt gần 524 triệu USD, giảm 1,4%.
Xét theo thị trường, đến hết tháng 6, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang Mỹ đạt hơn 176 triệu USD, giảm 2,3% so với cùng kỳ. Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm gần 39% tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam.
Diễn biến theo tháng cho thấy thị trường chưa ổn định. Xuất khẩu giảm liên tục trong 5 tháng đầu năm, sau đó bật tăng gần 100% trong tháng 6, đạt gần 35,9 triệu USD. Một phần mức tăng này có phần lớn là từ việc nhà nhập khẩu thúc đẩy giao hàng sớm để phòng ngừa rủi ro chính sách.
Tribg khi đó, Canada đang nổi lên là một trong những điểm sáng của cá ngừ Việt Nam. Cụ thể, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang Canada đạt gần 20 triệu USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2025. Canada hiện là thị trường nhập khẩu cá ngừ lớn thứ 6 của Việt Nam, đồng thời là một trong những điểm sáng trong khối các thị trường tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) khi xuất khẩu sang Mỹ và EU còn nhiều biến động.
Diễn biến theo tháng cho thấy thị trường phục hồi rõ từ quý 2. Giá trị xuất khẩu tăng trưởng liên tục qua từng tháng. Giá trị xuất khẩu trong quý II đạt gần 12 triệu USD, tăng gần 30%, bù đắp phần lớn mức giảm của quý I. Tuy nhiên, vẫn chưa thể khẳng định thị trường đã bước vào một chu kỳ tăng ổn định.
Cơ cấu sản phẩm cũng có sự phân hóa. Nhóm cá ngừ tươi, đông lạnh và khô mã HS03 đạt gần 14 triệu USD, giảm 6%. Trong khi đó, nhóm cá ngừ chế biến và đóng hộp mã HS16 đạt gần 6 triệu USD, tăng 42%. Như vậy, động lực tăng trưởng chính không đến từ nhóm nguyên liệu đông lạnh mà từ các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao hơn.
Cá ngừ là một trong những loại hải sản có giá trị thương mại cao nhờ hàm lượng dinh dưỡng dồi dào và được người tiêu dùng tại nhiều thị trường ưa chuộng. Loại cá này cung cấp nguồn protein chất lượng cao, với khoảng 24–30 g protein trong mỗi 100 g thịt, tương đương hoặc cao hơn so với cá hồi, đồng thời chứa ít chất béo hơn.
Bên cạnh đó, cá ngừ còn giàu axit béo omega-3, vitamin D, vitamin B12, selen và nhiều khoáng chất thiết yếu, góp phần hỗ trợ sức khỏe tim mạch, não bộ và hệ miễn dịch. Nhờ đáp ứng xu hướng tiêu dùng thực phẩm giàu đạm, ít chất béo và tiện lợi, cá ngừ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong thương mại thủy sản toàn cầu, đặc biệt tại các thị trường như Mỹ, EU và Nhật Bản.
Như Quỳnh