Chủ tịch HAMEE: Tiếp xúc HFIC còn khó hơn vay vốn ngân hàng
Hiện nhiều doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn ưu đãi phải thông qua Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP.HCM (HFIC). Tuy nhiên, theo thực tế của doanh nghiệp, việc tiếp cận HFIC còn khó hơn vay vốn ngân hàng.
Ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TP.HCM (HAMEE), chỉ ra những nguyên nhân khiến doanh nghiệp Việt vẫn khó trở thành nhà cung ứng của các tập đoàn FDI, đồng thời đề xuất ba nhóm chính sách cần được ưu tiên để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Ông Tống chia sẻ câu chuyện của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt bên lề chuỗi triển lãm Vietnam ETE, Greenergy Expo, Elecs Vietnam và Vietnam PFA 2026 ngày 15/7 tại TP.HCM.
Phóng viên: Nhiều tập đoàn FDI khi đầu tư vào Việt Nam đều đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa. Theo ông, doanh nghiệp cơ khí Việt Nam hiện đã đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và năng lực của khối FDI hay chưa? Làm thế nào để doanh nghiệp Việt có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng này?
Ông Đỗ Phước Tống: Hiện nay, hầu hết doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam đều có yêu cầu sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước. Tuy nhiên, năng lực và nguồn lực của doanh nghiệp Việt vẫn còn hạn chế nên mức độ đáp ứng chưa cao.

Ông Đỗ Phước Tống, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TP.HCM (HAMEE). Ảnh: HAMEE.
Chính vì vậy, rất nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ từ nước ngoài cũng chuyển theo các tập đoàn FDI vào Việt Nam. Họ mang cả hệ sinh thái vệ tinh sang đây để sản xuất. Xét về mặt thống kê, những doanh nghiệp này vẫn đáp ứng tiêu chí nội địa hóa vì sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam. Điều đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế, nhưng chưa thực sự tạo ra sự phát triển cho doanh nghiệp Việt Nam.
Doanh nghiệp Việt hiện phải cạnh tranh trực tiếp với chính các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ FDI này. Đây là bài toán rất khó.
Các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều lợi thế hơn. Họ được chính phủ nước họ hỗ trợ khi đầu tư ra nước ngoài, đồng thời cũng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi dành cho FDI tại Việt Nam. Quan trọng hơn, khi sang Việt Nam, họ đã mang theo sẵn khách hàng là các tập đoàn FDI lớn - vốn là đối tác của họ từ trước. Vì vậy, họ gần như ở thế thượng phong ngay từ đầu.
Trong khi đó, doanh nghiệp Việt vừa yếu hơn về nguồn lực, vừa thiếu những chính sách hỗ trợ đủ mạnh nên khả năng cạnh tranh gặp rất nhiều áp lực.
Việc các tập đoàn đa quốc gia đưa theo hệ thống nhà cung ứng sang nước tiếp nhận đầu tư là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, thách thức đối với Việt Nam là làm thế nào để doanh nghiệp nội từng bước nâng năng lực, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thay vì chỉ đứng ngoài quá trình nội địa hóa.
"Doanh nghiệp Việt phải mạnh dạn đầu tư và tìm thị trường mới"
Theo ông, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam cần làm gì để vừa nâng cao năng lực nội sinh, vừa có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI?
Nguồn lực của doanh nghiệp Việt tuy chưa lớn nhưng vẫn đang từng bước được tích lũy trong quá trình phát triển.
Thông điệp mà Ban Chấp hành Hiệp hội cũng như các doanh nghiệp thành viên luôn chia sẻ với nhau là phải mạnh dạn hơn. Mạnh dạn đầu tư, mạnh dạn tìm kiếm thị trường mới.
Tất nhiên, nếu có thêm sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính sách thì tốc độ đầu tư và phát triển sẽ nhanh hơn, từ đó doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp FDI. Còn nếu chỉ dựa vào nội lực thì doanh nghiệp Việt vẫn phát triển, nhưng rất chậm.
Trong khi đó, doanh nghiệp FDI vẫn liên tục đầu tư vào Việt Nam. Nếu tốc độ này tiếp diễn, áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp trong nước sẽ ngày càng lớn.
Dù vậy, nhiều doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí - Điện TP.HCM hiện cũng đang rất chủ động đầu tư, đồng thời tăng cường liên kết với nhau để đủ năng lực đáp ứng các đơn hàng lớn.
Bên cạnh thị trường trong nước, một hướng đi đáng chú ý là mở rộng ra thị trường quốc tế. Nếu cạnh tranh trực diện với doanh nghiệp FDI ngay tại Việt Nam quá khó thì doanh nghiệp có thể hướng sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí cả Trung Quốc.
Nhiều người cho rằng rất khó xuất khẩu sản phẩm cơ khí sang Trung Quốc, nhưng thực tế vẫn có doanh nghiệp Việt làm được.
Lợi thế của doanh nghiệp Việt nằm ở đâu?
Lợi thế nằm ở những sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao, công nghệ đặc thù, chất lượng ổn định và uy tín đã được khẳng định.
Đây không phải là lợi thế đại trà như hàng tiêu dùng mà là những thị trường ngách rất hẹp, nơi doanh nghiệp Việt có nền tảng kỹ thuật đủ tốt để tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu khắt khe.
Thực tế, nhiều sản phẩm xuất sang Trung Quốc không phải để bán cho doanh nghiệp Trung Quốc mà cho các doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc đang đầu tư và sản xuất tại Trung Quốc. Họ tin tưởng chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt nên tiếp tục đặt hàng.
Các doanh nghiệp Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc đang đầu tư tại Việt Nam không chỉ mua sản phẩm của doanh nghiệp Việt để phục vụ hoạt động sản xuất trong nước, mà còn đặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc nhằm cung ứng cho các nhà máy của họ tại thị trường này. Điều đó cho thấy các tập đoàn đa quốc gia ngày càng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất.
Ba chính sách cần ưu tiên để nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Ông nhiều lần nhấn mạnh vai trò của chính sách. Nếu chỉ chọn ba ưu tiên cấp bách nhất, ông mong muốn điều gì?
Thứ nhất là cần đẩy nhanh chương trình kích cầu đầu tư.
Hiện chương trình này đã có nhưng quá trình triển khai còn nhiều vướng mắc. Sắp tới, chương trình dự kiến mở rộng sang các nội dung như đầu tư công nghệ quản trị, năng lượng xanh và thiết bị mới. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là phải triển khai nhanh để doanh nghiệp sớm tiếp cận được nguồn hỗ trợ.
Thứ hai là cải thiện khả năng tiếp cận vốn.
Hiện nhiều doanh nghiệp muốn tiếp cận nguồn vốn ưu đãi phải thông qua Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP.HCM (HFIC). Tuy nhiên, theo thực tế của doanh nghiệp, việc tiếp cận HFIC còn khó hơn vay vốn ngân hàng.
Có những dự án ngân hàng đánh giá khả thi và sẵn sàng cho vay, nhưng khi làm việc với HFIC lại không được chấp thuận vì yêu cầu về mức độ an toàn rất cao. Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, việc đòi hỏi mức độ an toàn gần như tuyệt đối là điều không dễ, vô hình trung tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng.
Thứ ba là phát triển các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành.
Hiện nhiều doanh nghiệp cơ khí đang hoạt động phân tán ở nhiều địa điểm khác nhau nên việc liên kết sản xuất chưa hiệu quả, chi phí logistics cũng cao.
Nếu có những khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp tập trung dành riêng cho doanh nghiệp cùng ngành, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng phối hợp theo từng công đoạn sản xuất, giảm chi phí, tăng hiệu quả hợp tác và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả ngành. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xin cảm ơn ông!
Thế Trần