Lạm phát tăng 4,24% trong mười tháng năm 2026

Bình quân mười tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung.

CPI bình quân mười tháng năm 2026 tăng 4,57%

Theo số liệu do Cục Thống kê công bố sáng 3/11, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười tăng 0,2% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu trong nước điều chỉnh tăng theo giá nhiên liệu thế giới. CPI tháng Mười tăng 4,41% so với tháng 12/2025 và tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 04 nhóm có chỉ số giá giảm.

07 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể:

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,04%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do chi phí nguyên liệu và vận chuyển ở mức cao; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%;

Nhóm giáo dục tăng 0,31%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%; nhóm giao thông tăng 2,66% chủ yếu do chỉ số giá xăng tăng 6,86% và dầu diesel tăng 0,75%.

Lạm phát tăng 4,24% trong mười tháng năm 2026 - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

04 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước, cụ thể:

Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,18%.; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,24%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,87%

CPI bình quân mười tháng năm 2026 tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,61%; nhóm giao thông tăng 6,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,72%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,80%; giáo dục tăng 3,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,75%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin và truyền thông tăng 0,12%.

Lạm phát cơ bản tháng Mười năm 2026 giảm 0,05% so với tháng trước và tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mười tháng năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,57% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống, dịch vụ y tế biến động làm CPI chung tăng, trong khi các nhóm này được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.

Chỉ số giá vàng tháng 10/2026 giảm 2,85%

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới tháng Mười (tính đến ngày 28/10/2026) ở mức 4.137,85 USD/ounce, giảm 6,69% so với tháng trước, chủ yếu do đồng USD mạnh lên, lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao, thị trường gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát cùng với áp lực bán chốt lời của các nhà đầu tư.

Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Mười giảm 2,85% so với tháng trước; giảm 2,94% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,77% so với tháng 12/2025. Bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 37,28% so với cùng kỳ năm trước.

Giá đô la Mỹ trong nước biến động ngược chiều với giá thế giới. Chỉ số giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường quốc tế tháng Mười (tính đến ngày 28/10/2026) đạt 101,88 điểm, tăng 2,39 điểm so với tháng Chín, trong bối cảnh kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt và lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ở mức cao.

Trong nước, chỉ số giá đô la Mỹ tháng Mười giảm 0,26% so với tháng trước; giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 1,32% so với tháng 12/2025, chủ yếu do nguồn cung ngoại tệ tương đối dồi dào và chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước.

Hoàng Lam

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT