Hòa giải thương mại cần "cởi trói" pháp lý để phát triển chuyên nghiệp

Hòa giải thương mại tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến quan trọng sau gần 10 năm thực thi Nghị định 22/2017. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, chuyên nghiệp hóa đội ngũ hòa giải viên và thay đổi tư duy từ "đối đầu" sang "hợp tác".

Nghị định về hòa giải thương mại đã thành "chiếc áo quá chật"

Trong khuôn khổ Tuần lễ Trọng tài và Hòa giải Việt Nam 2026 do Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) phối hợp cùng Hội Luật gia Việt Nam và Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc VIAC tổ chức, ngày 28/5, tiếp tục với phiên thảo luận về kỹ năng và hiệu quả trong hòa giải thuộc Hội thảo "Hòa giải thương mại: Góc nhìn từ các chuyên gia quốc tế và Việt Nam".

Sự kiện thu hút đông đảo đại diện cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, cộng đồng doanh nghiệp, các hãng luật và chuyên gia trong, ngoài nước tham dự.

Tại phiên thảo luận, bà Phạm Thị Thanh Huyền - Giám đốc Chương trình Phát triển Cơ sở Hạ tầng ngành tài chính, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), cho rằng, sau 9 năm thực thi, Nghị định 22/2017 đã tạo nền tảng quan trọng cho hòa giải thương mại tại Việt Nam, song vẫn còn nhiều nội dung cần tiếp tục hoàn thiện.

Chia sẻ thêm, bà Nguyễn Thị Mai - Giám đốc VMC (thuộc VIAC) cho biết thêm quá trình xây dựng Nghị định 22 từng gặp nhiều khó khăn do thời điểm đó chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý về hòa giải thương mại.

Hòa giải thương mại cần "cởi trói" pháp lý để phát triển chuyên nghiệp - Ảnh 1.

Bà Nguyễn Thị Mai - Giám đốc VMC (thuộc VIAC).

Theo bà, một trong những bước đột phá lớn của Nghị định 22 là trao quyền chủ động rất lớn cho các bên trong việc lựa chọn trình tự, thủ tục hòa giải; đồng thời giảm tối đa cơ chế "xin - cho" trong hoạt động hòa giải viên và trung tâm hòa giải. "Đây là một lĩnh vực cần được khuyến khích, Nhà nước nên đóng vai trò hỗ trợ thay vì quản lý quá chặt", bà Mai nói.

Bà cũng cho biết nhiều đề xuất tiến bộ khi xây dựng Nghị định 22 chưa thể đưa vào do vướng quy định tố tụng, như nguyên tắc bảo mật thông tin hòa giải; quy định tòa án, trọng tài phải ưu tiên hòa giải khi các bên đã có thỏa thuận hòa giải; hay việc "đóng băng" thời hiệu khởi kiện trong thời gian các bên tiến hành hòa giải.

Bà Mai ví Nghị định 22 đã trở thành "chiếc áo quá chật" với tầm vóc của hòa giải Việt Nam hiện nay. Theo bà Mai, những hạn chế này cho thấy cần sớm xây dựng Luật Hòa giải thương mại để tạo hành lang pháp lý đầy đủ hơn cho hoạt động hòa giải.

Cần sự hỗ trợ rất lớn từ tòa án

Một vấn đề được các chuyên gia đặc biệt quan tâm là cơ chế thù lao và đào tạo hòa giải viên. Theo GS.TS Mai Hồng Quỳ - Trọng tài viên VIAC, Hòa giải viên VMC, hiện việc chi trả thù lao cho hòa giải viên trong các vụ việc có cơ quan nhà nước tham gia vẫn còn nhiều vướng mắc do thiếu hướng dẫn về tài chính, ngân sách. Điều này khiến nhiều vụ việc bị kéo dài hoặc hòa giải viên không mặn mà tham gia.

Hòa giải thương mại cần "cởi trói" pháp lý để phát triển chuyên nghiệp - Ảnh 2.

GS.TS Mai Hồng Quỳ - Trọng tài viên VIAC, Hòa giải viên VMC.

Ở góc độ đào tạo, ông Trần Văn Nam - nguyên Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế Quốc dân; Hòa giải viên VMC, Trọng tài viên VIAC cho rằng, rào cản pháp lý và cơ chế thù lao chưa phù hợp đang cản trở quá trình chuyên nghiệp hóa đội ngũ hòa giải viên. Hiện phần lớn hòa giải viên tại Việt Nam vẫn hoạt động kiêm nhiệm, chưa thể toàn tâm theo đuổi nghề nghiệp một cách chuyên sâu.

Theo ông Nam, hoạt động đào tạo cũng cần chú trọng yếu tố thực tiễn và phù hợp với văn hóa giải quyết tranh chấp tại Việt Nam, thay vì chỉ sao chép mô hình quốc tế. "Muốn hòa giải phát triển bền vững thì không chỉ cần kỹ năng, mà còn cần cơ chế pháp lý đồng bộ và đội ngũ hòa giải viên chuyên nghiệp", ông Nam nhấn mạnh.

Ông Trần Văn Nam cho biết, Trung Quốc hiện có tới 529 tổ chức hòa giải thương mại với khoảng 12.000 hòa giải viên. Để trở thành hòa giải viên thương mại, các cá nhân phải đáp ứng những tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt như vượt qua kỳ thi của Học viện Tư pháp quốc gia và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm hòa giải; hoặc có 8 năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực chuyên môn như thương mại, tài chính, xây dựng.

Hòa giải thương mại cần "cởi trói" pháp lý để phát triển chuyên nghiệp - Ảnh 3.

Ông Trần Văn Nam - nguyên Trưởng Khoa Luật, Đại học Kinh tế Quốc dân; Hòa giải viên VMC, Trọng tài viên VIAC.

Theo ông Nam, Trung Quốc xây dựng mô hình quản lý hòa giải thương mại theo nhiều cấp độ. Bộ Tư pháp ban hành tiêu chuẩn hòa giải viên; cơ quan tư pháp địa phương giám sát hoạt động của các trung tâm hòa giải; các hiệp hội hòa giải phải đăng ký hoạt động, công khai danh sách hòa giải viên, biểu phí và điều lệ hoạt động.

"Điểm đáng chú ý là hòa giải thương mại tại Trung Quốc không phát triển đơn lẻ mà có sự hỗ trợ rất lớn từ hệ thống tòa án", ông Nam nhấn mạnh.

Ông dẫn số liệu từ Hiệp hội Hòa giải thương mại Quảng Tây cho biết, tính đến cuối năm 2025, tổ chức này đã tiếp nhận khoảng 163.000 vụ việc với tổng giá trị tranh chấp lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng Việt Nam, trong đó hòa giải thành công khoảng 54.000 vụ.

Theo ông Nam, kết quả này có được nhờ cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa tòa án và các tổ chức hòa giải. Nhiều trung tâm hòa giải tại Trung Quốc được Tòa án Nhân dân Tối cao, tòa án thương mại quốc tế và tòa án địa phương ủy quyền tiếp nhận, xử lý các vụ việc tranh chấp.

Trong khi đó, tại Việt Nam, số lượng vụ việc hòa giải thương mại còn khá khiêm tốn do thiếu cơ chế chuyển vụ việc từ tòa án sang các trung tâm hòa giải độc lập.

Ông cho rằng, khi xây dựng Luật Hòa giải thương mại trong thời gian tới, Việt Nam cần nghiên cứu cơ chế cho phép các bên được lựa chọn hòa giải tại các trung tâm ngoài tòa án trước hoặc trong quá trình tố tụng. Đồng thời, cần tạo điều kiện để hòa giải viên tư nhân tham gia sâu hơn vào hoạt động hòa giải tại tòa án.

"Từ kinh nghiệm của Trung Quốc có thể thấy, muốn hòa giải phát triển thì không thể để các trung tâm hòa giải 'đứng một mình', mà cần có cơ chế kết nối hiệu quả với tòa án và sự hỗ trợ từ Nhà nước", ông nói.

Ông cũng cho rằng Việt Nam cần tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, xây dựng tiêu chuẩn nghề nghiệp rõ ràng và tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động hòa giải thương mại.

Khi bước vào hòa giải, các bên phải hướng tới chữ "hòa"

Từ thực tiễn tham gia nhiều vụ việc lớn, GS.TS Mai Hồng Quỳ chia sẻ rằng, điều quan trọng nhất trong hòa giải là thay đổi tư duy của luật sư và các bên tham gia tranh chấp.

Theo bà, khi bước vào hòa giải, các bên phải hướng tới chữ "hòa" thay vì mục tiêu thắng – thua như trong tố tụng hay trọng tài. "Nếu luật sư bước vào bàn hòa giải với tâm thế phải thắng, phải áp đảo đối phương thì rất khó có hòa giải thành công", bà Quỳ nhấn mạnh.

Bà cho rằng hòa giải khác trọng tài ở chỗ chính các bên là người quyết định kết quả cuối cùng, còn hòa giải viên và luật sư chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tạo điều kiện để các bên tìm được "điểm hòa vốn" chấp nhận được.

Theo bà Quỳ, với các vụ việc phức tạp, đặc biệt có sự tham gia của cơ quan nhà nước, hòa giải viên không chỉ hiểu pháp luật mà còn phải giải quyết được tâm lý lo ngại trách nhiệm của các bên tham gia.

Bà cũng cho rằng mô hình hòa giải quốc tế cần được vận dụng linh hoạt tại Việt Nam. Hòa giải viên không nên chỉ đóng vai trò "truyền đạt thông tin" giữa các bên mà cần trở thành một chuyên gia pháp lý độc lập, giúp các bên nhìn rõ điểm mạnh, điểm yếu và tìm được giải pháp phù hợp.

"Mất lòng tin là mất tất cả. Khi các bên không còn tin hòa giải viên thì vụ hòa giải gần như thất bại", bà nói. Từ thực tiễn, bà Quỳ khuyến nghị với các tranh chấp phức tạp nên có hai hòa giải viên phối hợp thay vì một, nhưng không nên thành lập hội đồng ba hòa giải viên như trọng tài.

An ninh Tiền tệ - Tạp chí Người Đưa Tin Pháp luật

MỚI CẬP NHẬT